Nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về hội nhập quốc tế trong bối cảnh mới
Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt, hội nhập quốc tế là chủ trương chiến lược, nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. 

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã và đang lợi dụng chính quá trình hội nhập để tung ra nhiều luận điệu sai trái, xuyên tạc, như: đồng nhất hội nhập với “tự do hóa tuyệt đối”; cho rằng Việt Nam “đánh đổi chủ quyền lấy lợi ích kinh tế”; thổi phồng nguy cơ “phụ thuộc kinh tế”, “hòa tan, mất bản sắc văn hóa”; hoặc tuyên truyền hội nhập là “từ bỏ lý tưởng xã hội chủ nghĩa”. Bài tham luận này tập trung: (i) Làm rõ cơ sở lý luận về hội nhập quốc tế, chủ quyền quốc gia và độc lập, tự chủ trong điều kiện toàn cầu hóa; (ii) Nhận diện có hệ thống các nhóm luận điệu sai trái, thù địch về hội nhập quốc tế; (iii) Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn để phản bác các luận điệu đó, trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, Văn kiện Đại hội XIII, Nghị quyết số 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 35-NQ/TW về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; (iv) Đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hội nhập, đồng thời tăng cường đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực đối ngoại và hội nhập quốc tế. Từ khóa: hội nhập quốc tế; quan điểm sai trái, thù địch; độc lập, tự chủ; chủ quyền quốc gia; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

MỞ ĐẦU

Trong gần 40 năm Đổi mới, chủ trương đối ngoại “độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”, “đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại”, “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả” đã góp phần đưa Việt Nam thoát thế bao vây, cấm vận, mở rộng không gian phát triển, hội nhập sâu vào các chuỗi giá trị toàn cầu; đồng thời củng cố độc lập, tự chủ, tăng cường tiềm lực tổng hợp và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước.
Cùng với những thành tựu to lớn, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ngày càng gia tăng hoạt động chống phá, nhất là trên không gian mạng, trong đó tập trung công kích, xuyên tạc đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng. Chúng cố tình cắt xén, bóp méo các chủ trương, chính sách, gieo rắc hoài nghi, kích động tâm lý “tự ti – sợ hội nhập” hoặc “cực đoan – bài hội nhập”, tạo tiền đề cho “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Nghị quyết số 35-NQ/TW (2018) của Bộ Chính trị đã xác định “tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” là nhiệm vụ thường xuyên, sống còn của Đảng. Trong đó, mặt trận đấu tranh tư tưởng – lý luận ở lĩnh vực đối ngoại và hội nhập quốc tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi nó gắn trực tiếp với vận mệnh phát triển của đất nước trong môi trường toàn cầu hóa đầy biến động hiện nay.
Tham luận này tiếp cận hội nhập quốc tế vừa trên trục kinh tế – chính trị, vừa trên trục tư tưởng – tổ chức, nhằm góp phần nhận diện rõ hơn và phản bác có cơ sở khoa học các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc đường lối hội nhập quốc tế đúng đắn của Đảng.

1. Cơ sở lý luận về hội nhập quốc tế, chủ quyền quốc gia và độc lập, tự chủ

1.1. Khái niệm và bản chất hội nhập quốc tế trong quan điểm của Đảng
Theo Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị “Về hội nhập quốc tế”, hội nhập quốc tế là quá trình Việt Nam nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế đã tham gia, đồng thời chủ động, tích cực tham gia xây dựng và tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế, tham gia các hoạt động của cộng đồng khu vực và quốc tế.
Từ đây có thể nhấn mạnh ba điểm quan trọng:
Thứ nhất, hội nhập không phải là thụ động chấp nhận “luật chơi” do nước khác áp đặt, mà là tham gia đồng kiến tạo luật chơi, góp phần định hình thể chế, chuẩn mực quốc tế phù hợp với lợi ích chính đáng của mình.
Thứ hai, hội nhập luôn gắn với tuân thủ cam kết trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, nhưng không phải là sự “thỏa hiệp nguyên tắc” hay “tự trói tay” trong các vấn đề thuộc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ chính trị.
Thứ ba, hội nhập quốc tế của Việt Nam mang tính toàn diện, bao quát các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng – an ninh, văn hóa – xã hội, khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo… chứ không thuần túy là hội nhập kinh tế.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội (bổ sung, phát triển 2011) khẳng định: phải “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực”.
Điều đó cho thấy hội nhập quốc tế được Đảng xác định là phương thức thực hiện độc lập, tự chủ ở trình độ cao hơn, chứ không phải đối lập với độc lập, tự chủ.

1.2. Nguyên tắc, định hướng chiến lược: độc lập, tự chủ gắn với hội nhập
Đường lối hội nhập quốc tế của Đảng được xây dựng trên một số nguyên tắc cốt lõi:
- Độc lập, tự chủ là nền tảng, xuyên suốt. Độc lập, tự chủ không đồng nghĩa với “tự cô lập”, mà là tự quyết định con đường phát triển, tự lựa chọn hình thức và mức độ tham gia vào các cơ chế quốc tế, tự chịu trách nhiệm trước nhân dân và lịch sử. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào”.
- Phát huy nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng. Hội nhập phải dựa trên nền tảng nội lực mạnh: kinh tế độc lập, tự chủ; công nghiệp nền tảng và công nghiệp hỗ trợ; nguồn nhân lực chất lượng cao; thị trường nội địa vững mạnh; hệ thống thể chế, pháp luật đồng bộ. Ngoại lực (vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý) chỉ phát huy tối đa khi gắn với nội lực.
- Hội nhập gắn liền với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện Việt Nam: sử dụng cơ chế thị trường, khuyến khích đa dạng các thành phần kinh tế, nhưng Đảng giữ vai trò lãnh đạo, Nhà nước quản lý, điều tiết, định hướng nền kinh tế phát triển vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

1.3. Hội nhập quốc tế, chủ quyền quốc gia và độc lập, tự chủ trong điều kiện toàn cầu hóa
Lý luận quan hệ quốc tế đương đại chỉ ra rằng trong bối cảnh toàn cầu hóa, chủ quyền quốc gia không còn là “bức tường tuyệt đối” khép kín, mà ngày càng mang tính quan hệ, được thực thi thông qua mạng lưới các cam kết, thể chế và phụ thuộc lẫn nhau. Việc tham gia các định chế đa phương như WTO, các FTA “thế hệ mới”, các cơ chế hợp tác khu vực không làm mất chủ quyền, mà là hình thức thực thi chủ quyền thông minh hơn, dựa trên pháp lý và cộng đồng quốc tế.
Quan điểm của Đảng ta nhất quán: độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế là hai mặt của một chỉnh thể biện chứng. Giữ vững độc lập, tự chủ là điều kiện để hội nhập thành công; hội nhập sâu rộng, hiệu quả lại tạo thêm thế và lực để bảo vệ độc lập, tự chủ trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược phức tạp hiện nay.

2. Nhận diện các luận điệu sai trái, thù địch về hội nhập quốc tế

Từ thực tiễn theo dõi diễn biến tư tưởng trên mạng xã hội, các phương tiện truyền thông, có thể khái quát một số nhóm luận điệu sai trái, thù địch chủ yếu như sau:

2.1. Luận điệu: “Hội nhập = Tự do hóa tuyệt đối”
Các thế lực thù địch đồng nhất hội nhập quốc tế với việc xóa bỏ hoàn toàn hàng rào bảo hộ, “thả nổi” nền kinh tế cho thị trường và các tập đoàn xuyên quốc gia; cổ vũ tư nhân hóa triệt để, thu hẹp tối đa vai trò kinh tế của Nhà nước, coi mọi biện pháp điều tiết, quản lý là “cản trở hội nhập”.
Bản chất của luận điệu này là cố tình áp đặt mô hình “tân tự do mới” vào bối cảnh Việt Nam, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, tiến tới phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa.

2.2. Luận điệu: “Hội nhập làm mất bản sắc dân tộc, chệch hướng xã hội chủ nghĩa”
Một mũi xuyên tạc khác là tuyệt đối hóa mặt trái của toàn cầu hóa văn hóa, cho rằng hội nhập quốc tế tất yếu dẫn đến “tha hóa”, “Tây hóa”, “mất bản sắc”, làm “chệch hướng XHCN”. Từ đó, họ phủ nhận tính đúng đắn của chủ trương “hội nhập quốc tế toàn diện”, đòi “đóng cửa” hoặc “giảm tốc” hội nhập để “giữ bản sắc”. Thực chất, đây là cách tách rời, đối lập giả tạo giữa hội nhập và định hướng xã hội chủ nghĩa, giữa mở cửa với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

2.3. Luận điệu: “Hội nhập đặt Việt Nam vào tình trạng phụ thuộc kinh tế”
Dưới vỏ bọc “lo ngại cho nền kinh tế”, các luận điệu này cho rằng Việt Nam trở thành “công xưởng gia công giá rẻ”, “phụ thuộc FDI”, “phụ thuộc thị trường xuất khẩu”, “phụ thuộc chuỗi cung ứng nước ngoài”, từ đó đánh đồng hội nhập với phụ thuộc, lệ thuộc. Mục tiêu sâu xa là gieo rắc tâm lý bi quan, hoài nghi nội lực dân tộc, nghi ngờ khả năng lãnh đạo của Đảng trong quản trị hội nhập và quản trị rủi ro phụ thuộc.

2.4. Luận điệu: “Đánh đổi chủ quyền để lấy lợi ích kinh tế”
Một số quan điểm cực đoan cho rằng việc Việt Nam tham gia các FTA “thế hệ mới” (CPTPP, EVFTA, RCEP…) là “chấp nhận từ bỏ chủ quyền kinh tế, chủ quyền thể chế” để đổi lấy lợi ích kinh tế ngắn hạn; rằng các cam kết về thể chế, pháp luật là sự can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm chủ quyền quốc gia.
Luận điệu này cố tình nhập nhằng giữa chủ quyền quốc gia bất khả xâm phạm với việc tự nguyện chấp nhận các ràng buộc quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, vốn là đặc trưng của hợp tác và hội nhập trong thế kỷ XXI.

2.5. Luận điệu: “Hội nhập là từ bỏ lý tưởng xã hội chủ nghĩa”
Cuối cùng, các thế lực thù địch cho rằng việc phát triển kinh tế thị trường, khuyến khích kinh tế tư nhân, hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu là “đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”, “từ bỏ lý tưởng XHCN”. Họ cố tình lẫn lộn giữa phương thức (kinh tế thị trường, hội nhập) với mục tiêu (xây dựng CNXH), giữa công cụ (huy động nguồn lực tư nhân, FDI) với định hướng giá trị (vì con người, vì tiến bộ và công bằng xã hội).

3. Cơ sở lý luận và thực tiễn để phản bác các luận điệu sai trái

3.1. Phản bác luận điệu “hội nhập = tự do hóa tuyệt đối”
Thứ nhất, về mặt lý luận, Đảng ta không bao giờ chủ trương “tự do hóa tuyệt đối”. Nghị quyết 22-NQ/TW khẳng định hội nhập kinh tế là trọng tâm, nhưng phải “phát huy tối đa nội lực”, “giữ vững độc lập, tự chủ, bảo đảm an ninh kinh tế”.
Hội nhập kinh tế đi đôi với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát triển công nghiệp nền tảng, công nghiệp hỗ trợ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng lực quản trị quốc gia.
Thứ hai, về chính sách cụ thể, Việt Nam thực hiện tự do hóa có khuôn khổ, có chọn lọc:
- Có lộ trình mở cửa theo ngành, lĩnh vực, bảo lưu không gian chính sách đối với những ngành liên quan an ninh quốc gia, an ninh lương thực, năng lượng, tài chính – tiền tệ.
- Trong các FTA “thế hệ mới”, nhiều bảo lưu về tỷ lệ sở hữu, dịch vụ công, mua sắm chính phủ… cho thấy Việt Nam không “thả nổi”, mà đàm phán kỹ để bảo vệ “lằn ranh đỏ” của mình.
Thứ ba, thực tiễn hội nhập 20 năm qua chứng minh Việt Nam không hề “mất vai trò quản lý kinh tế”. Nhà nước vẫn giữ vai trò định hướng, điều tiết vĩ mô, sử dụng các công cụ tài khóa, tiền tệ, đầu tư công, chính sách ngành để dẫn dắt thị trường, đồng thời từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.

3.2. Phản bác luận điệu “hội nhập làm mất bản sắc dân tộc, chệch hướng xã hội chủ nghĩa”
Một là, Văn kiện Đại hội XIII khẳng định: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển, và chủ trương “xây dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc của văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa”. Hội nhập ở đây được hiểu là mở cửa tiếp thu tinh hoa nhân loại để làm giàu cho bản sắc Việt Nam, chứ không phải hòa tan.
Hai là, thực tiễn chứng minh: trong quá trình hội nhập sâu rộng, Việt Nam vẫn bảo tồn và phát huy tốt các giá trị văn hóa truyền thống, di sản văn hóa vật thể – phi vật thể được UNESCO ghi danh ngày càng nhiều; đồng thời, các giá trị mới về dân chủ, pháp quyền, hội nhập, sáng tạo… được tiếp thu, sàng lọc, nội sinh hóa, tạo nên bản sắc Việt Nam đương đại vừa truyền thống, vừa hiện đại.
Ba là, về định hướng XHCN, Đảng ta nhất quán:
- Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng,
- Bảo đảm định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường,
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân;
- Chú trọng các chính sách an sinh xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau.
Đó chính là “vành đai an toàn” tư tưởng – thể chế để hội nhập mà không chệch hướng.

3.3. Phản bác luận điệu “hội nhập đặt Việt Nam vào tình trạng phụ thuộc kinh tế”
Thứ nhất, về mặt khái niệm, phụ thuộc khác với phụ thuộc lẫn nhau (interdependence). Trong thế giới ngày nay, không một nền kinh tế nào có thể “đứng ngoài” mạng lưới thương mại, đầu tư, tài chính toàn cầu. Vấn đề không phải “có phụ thuộc hay không”, mà là phụ thuộc ở vị thế nào, với mức độ chủ động ra sao.
Thứ hai, từ 2007 đến nay, sau gần 20 năm gia nhập WTO, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng từ khoảng 84,7 tỷ USD (2006) lên trên 700 tỷ USD (2024), tăng gấp nhiều lần; Việt Nam từ chỗ nhập siêu kéo dài đã chuyển sang xuất siêu liên tục nhiều năm, trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở thương mại cao và là đối tác thương mại quan trọng của nhiều nền kinh tế lớn.
Trong cùng thời gian, Việt Nam thu hút hàng chục nghìn dự án FDI với tổng vốn đăng ký hàng trăm tỷ USD, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành các cụm sản xuất điện tử, dệt may, da giày, chế biến nông sản… Những con số này cho thấy năng lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của Việt Nam được nâng lên, chứ không chỉ là “gia công giá rẻ”.
Thứ ba, Việt Nam chủ trương đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa đối tác, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, tránh phụ thuộc vào một thị trường hoặc một nguồn cung duy nhất. Việc tham gia CPTPP, EVFTA, RCEP… đồng thời với việc tăng cường quan hệ với ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, EU… tạo thế “đa phương hóa rủi ro”, “đa dạng hóa cơ hội”, tăng không gian chiến lược và giảm thiểu nguy cơ phụ thuộc.

3.4. Phản bác luận điệu “đánh đổi chủ quyền để lấy lợi ích kinh tế”
Một là, chủ quyền quốc gia là bất khả xâm phạm, không thể chuyển nhượng. Không một FTA nào yêu cầu Việt Nam “từ bỏ chủ quyền lãnh thổ” hay “từ bỏ chế độ chính trị”. Các cam kết chủ yếu tập trung vào hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp thương mại – là những lĩnh vực mà Việt Nam cũng đồng thời được hưởng lợi từ sự ràng buộc các bên khác.
Hai là, việc Quốc hội phê chuẩn các hiệp định quốc tế là hành vi thể hiện chủ quyền, chứ không phải “từ bỏ chủ quyền”. Nhà nước có quyền quyết định tham gia, điều chỉnh hoặc rút lui khỏi một số cơ chế, nếu thấy bất lợi nghiêm trọng, theo đúng luật pháp quốc tế.
Ba là, thực tiễn cho thấy, hội nhập giúp Việt Nam tạo thêm “lá chắn pháp lý” để bảo vệ chủ quyền trong nhiều vấn đề, đặc biệt là kinh tế, thương mại và một số tranh chấp quốc tế. Việt Nam không chỉ tuân thủ luật chơi, mà còn sử dụng luật chơi đó để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình.

3.5. Phản bác luận điệu “hội nhập là từ bỏ lý tưởng xã hội chủ nghĩa”
Trước hết, chủ nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử – lâu dài, không phải trạng thái có thể đạt được trong “một sớm một chiều”. Các nhà kinh điển Mác – Lênin đã chỉ rõ, CNXH phải kế thừa những thành tựu của CNTB, bao gồm lực lượng sản xuất hiện đại, khoa học – công nghệ, kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó có nghĩa là:
- Kinh tế nhiều thành phần, có sở hữu tư nhân, doanh nghiệp tư nhân, vốn FDI;
- Nhưng Đảng giữ vai trò lãnh đạo, Nhà nước giữ vai trò quản lý, điều tiết;
- Mục tiêu tối thượng là vì con người, vì tiến bộ và công bằng xã hội, không chạy theo lợi nhuận thuần túy.
Thực tiễn gần 40 năm Đổi mới đã chứng minh:
- Khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn nắm giữ các ngành, lĩnh vực then chốt;
- Kinh tế tư nhân được coi là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế, nhưng không được phép chi phối chính trị;
- Các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo, y tế, giáo dục công vẫn là trọng tâm; tỷ lệ nghèo giảm mạnh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt;
- Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội ngày càng được khẳng định.
Như vậy, hội nhập quốc tế không hề phủ nhận lý tưởng XHCN, mà là con đường để hiện thực hóa lý tưởng đó trong bối cảnh mới, trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc.

4. Bài học kinh nghiệm và định hướng phát triển hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới

4.1. Một số bài học kinh nghiệm chủ yếu
Qua gần 40 năm đổi mới và hội nhập, đặc biệt là gần 20 năm sau khi gia nhập WTO, có thể rút ra một số bài học lớn:
Thứ nhất, hội nhập phải chủ động, thận trọng và có chọn lọc. Không “hội nhập vì phong trào”, không chạy theo số lượng FTA, mà phải dựa trên đánh giá kỹ tác động, thời điểm, năng lực trong nước. Việc lựa chọn tham gia WTO năm 2007, CPTPP (2019), EVFTA (2020), RCEP (2022)… cho thấy khi chuẩn bị kỹ lưỡng, chúng ta có thể tối đa hóa lợi ích, giảm thiểu rủi ro.
Thứ hai, chuẩn bị nội bộ là quyết định. Hội nhập không chỉ là ký hiệp định mà là quá trình cải cách trong nước: hoàn thiện thể chế, pháp luật; nâng cao năng lực quản trị nhà nước; đào tạo nguồn nhân lực; đầu tư hạ tầng; nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước. Nếu nội lực không vững, ưu đãi thuế quan hay mở cửa thị trường cũng khó phát huy tác dụng.
Thứ ba, mở cửa nhưng phải bảo vệ hợp lý các lĩnh vực chiến lược. Kinh nghiệm cho thấy, dù hội nhập sâu, Việt Nam vẫn phải dành “vùng lõi an ninh” cho những ngành như năng lượng, tài chính – ngân hàng, quốc phòng – an ninh, hạ tầng số, một số lĩnh vực công nghệ mũi nhọn… để bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh thể chế.
Thứ tư, hội nhập phải gắn với phát triển bền vững. Các FTA thế hệ mới gắn chặt thương mại với lao động, môi trường, trách nhiệm xã hội. Hội nhập thành công không thể đánh đổi bằng ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên hoặc bất công xã hội. Việt Nam phải chủ động tiếp cận kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số, chuyển đổi năng lượng công bằng.

4.2. Định hướng nâng cao chất lượng hội nhập trong giai đoạn tới
Để hội nhập tiếp tục là “động lực chiến lược” cho phát triển, cần chú trọng một số định hướng:
- Nâng cấp mô hình hội nhập: Chuyển từ hội nhập dựa trên lao động giá rẻ, gia công lắp ráp sang hội nhập dựa trên đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, tận dụng các cơ hội của kinh tế số, kinh tế tri thức.
- Đa dạng hóa đối tác, mở rộng không gian chiến lược: Củng cố quan hệ với đối tác chiến lược, đối tác toàn diện hiện có; đồng thời mở rộng hợp tác với các trung tâm tăng trưởng mới như Ấn Độ, Trung Đông (Halal), châu Phi, Mỹ Latinh… để giảm thiểu rủi ro tập trung thị trường.
- Giữ vững ổn định chính trị – xã hội, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng: Đây là điều kiện tiên quyết để thu hút đầu tư, hội nhập thành công. Cần tăng cường “nội lực mềm”: niềm tin xã hội, đồng thuận chính trị, đoàn kết dân tộc, hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước.
- Phát huy tối đa nội lực, đặc biệt là doanh nghiệp trong nước và nguồn nhân lực: Tạo môi trường thể chế thuận lợi, minh bạch, có tính cạnh tranh cao; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi giá trị; đầu tư mạnh cho giáo dục, kỹ năng số, ngoại ngữ, tư duy toàn cầu cho lực lượng lao động.

5. Vai trò của khoa học xã hội và nhân văn trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng về hội nhập quốc tế

Trong bối cảnh “đấu tranh tư tưởng – lý luận” diễn ra gay gắt trên không gian mạng và trong đời sống, khoa học xã hội và nhân văn có ba vai trò then chốt:

5.1. Luận giải lý luận, làm rõ cơ sở khoa học của đường lối hội nhập
Các chuyên ngành lý luận chính trị, kinh tế quốc tế, quan hệ quốc tế, luật quốc tế, xã hội học, văn hóa học… cần:
- Làm rõ nội hàm, đặc trưng, tiêu chí “hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả”;
- Giải thích khoa học mối quan hệ biện chứng giữa độc lập, tự chủ với hội nhập quốc tế;
- Cung cấp hệ thống khái niệm, luận cứ, luận chứng vững chắc để cán bộ, đảng viên và nhân dân “miễn dịch” trước các luận điệu xuyên tạc.

5.2. Tổng kết thực tiễn, tư vấn và phản biện chính sách
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và các cơ sở nghiên cứu – đào tạo cần:
- Thực hiện các chương trình nghiên cứu tổng kết 40 năm đổi mới, 20 năm hội nhập WTO, 10 năm thực hiện Nghị quyết 22-NQ/TW…;
- Phân tích tác động của các FTA thế hệ mới; đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo vệ an ninh kinh tế, an ninh thể chế;
- Tham gia tư vấn, phản biện các chiến lược, quy hoạch, chính sách về hội nhập quốc tế, bảo đảm thống nhất nhận thức và hành động.

5.3. Truyền thông khoa học, đấu tranh trên không gian mạng
Ngoài nghiên cứu và tư vấn, đội ngũ trí thức KHXH&NV cần:
- Đẩy mạnh truyền thông khoa học thông qua các bài viết phổ biến, toạ đàm, diễn đàn, podcast, mạng xã hội… với ngôn ngữ dễ hiểu nhưng chính xác;
- Chủ động hiện diện trên không gian mạng với tư cách chuyên gia uy tín, trực tiếp tham gia đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về hội nhập quốc tế;
- Gắn nghiên cứu, giảng dạy với giáo dục công dân số, trang bị kỹ năng nhận diện tin giả, luận điệu xuyên tạc cho sinh viên, học viên, cán bộ, đảng viên.

 

KẾT LUẬN

Hội nhập quốc tế là chủ trương chiến lược, nhất quán, đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, là con đường tất yếu để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh chiến lược phức tạp hiện nay. Thực tiễn gần 40 năm Đổi mới, gần 20 năm gia nhập WTO cho thấy: hội nhập đúng đắn, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, không làm Việt Nam yếu đi, mà ngược lại, làm đất nước lớn mạnh hơn, vị thế và uy tín quốc tế được nâng cao, môi trường hòa bình, ổn định được giữ vững, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ được bảo đảm.
Chính những thành tựu đó lại khiến các thế lực thù địch gia tăng chống phá, tung ra hàng loạt luận điệu sai trái như “hội nhập = tự do hóa tuyệt đối”, “hội nhập là phụ thuộc”, “hội nhập là đánh đổi chủ quyền”, “hội nhập là từ bỏ lý tưởng XHCN”… Những luận điệu ấy, nếu không được nhận diện và phản bác kịp thời, có thể tác động tiêu cực đến niềm tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm suy yếu mặt trận tư tưởng – lý luận.
Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực hội nhập quốc tế đòi hỏi phải:
- Kiên định đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển;
- Không ngừng nâng cao chất lượng hội nhập, gắn hội nhập với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát triển bền vững;
- Tăng cường công tác tư tưởng, lý luận, truyền thông khoa học;
- Phát huy vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn, trong đó có Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, trên cả “mặt trận nghiên cứu” và “mặt trận tư tưởng” trong kỷ nguyên số.
Đó cũng là cách thiết thực để thực hiện sứ mệnh: khoa học xã hội và nhân văn với sứ mệnh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới, góp phần đưa sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế và xây dựng CNXH ở Việt Nam tiến lên những tầm cao mới.

*Bài viết được đăng tại Kỷ yếu khoa học “Khoa học Xã hội và Nhân văn với sứ mệnh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới”, NXB Khoa học Xã hội, ISBN: 978-632-607-535-9, tháng 12/2025

 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt

1.       Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2.       Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3.       Bộ Chính trị (2013), Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10-4-2013 “Về hội nhập quốc tế”, Hà Nội.
4.       Bộ Chính trị (2018), Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 11-10-2018 “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Hà Nội.
5.       Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, Hà Nội.
6.       Chính phủ (2016), Quyết định số 40/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội.
7.       Báo Nhân Dân (2024), “Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam”.
8.       Báo Quân đội Nhân dân (2023), “Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị: Bước chuyển quan trọng về tư duy và định hướng hội nhập quốc tế”.
9.       Hà Văn Hạnh (2022), “Độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế: Một vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 10, tr. 45–52.
10.   Phạm Thị Thanh Hương (2021), “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới”, Tạp chí Cộng sản, số 6, tr. 38–45.
11.   Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2023), Hội nhập quốc tế của Việt Nam: Lý luận, thực tiễn và triển vọng, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Tài liệu nước ngoài
12.   ASEAN Secretariat (2022), ASEAN Economic Integration Report 2022, ASEAN Publications, Jakarta.
13.   WTO (2021), Annual Report 2021, WTO Publications, Geneva.
14.   UNCTAD (2022), World Investment Report 2022: Investing in Sustainable Recovery, United Nations, Geneva.
15.   Keohane, R.O. & Nye, J.S. (2012), Power and Interdependence, 4th edn, Longman, New York.
16.   Krasner, S. (1999), Sovereignty: Organized Hypocrisy, Princeton University Press, Princeton.
17.   Held, D. & McGrew, A. (2007), Globalization/Anti-Globalization: Beyond the Great Divide, 2nd edn, Polity Press, Cambridge.

PGS.TS Đinh Công Hoàng
Nguồn bài viết: Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi
Ý kiến bạn đọc
Họ tên no image
Nội dung no image
Mã kiểm tra no image
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1