Chuyển đổi số trong xuất bản sách khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và định hướng triển khai theo tinh thần Chỉ thị số 04-CT/TW

Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển kinh tế tri thức, xuất bản sách khoa học và công nghệ đang đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ cả về mô hình tổ chức, phương thức quản trị lẫn hệ sinh thái phổ biến tri thức. Chỉ thị số 04-CT/TW, ngày 17-3-2026, của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới đã xác lập những định hướng quan trọng để thúc đẩy hệ sinh thái xuất bản học thuật số tại Việt Nam, gắn kết hoạt động xuất bản với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Anh-tin-bai
Các đại biểu tham quan triển lãm trưng bày sách tại "Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam 2026"_Ảnh: TTXVN

Xuất bản sách khoa học và công nghệ trong bối cảnh kinh tế tri thức

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và internet đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, quản lý, lưu trữ và phổ biến tri thức khoa học(1). Trong nền kinh tế tri thức, tri thức khoa học và công nghệ không chỉ là kết quả của hoạt động nghiên cứu mà còn trở thành nguồn lực phát triển có ý nghĩa chiến lược đối với năng lực cạnh tranh và trình độ phát triển của mỗi quốc gia.

Tri thức và đổi mới sáng tạo ngày càng giữ vai trò trung tâm trong tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và nâng cao năng suất quốc gia. Trong bối cảnh đó, hoạt động xuất bản sách khoa học và công nghệ không chỉ thực hiện chức năng lưu giữ và phổ biến tri thức mà còn tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành, truyền bá và chuyển hóa tri thức khoa học thành nguồn lực phát triển. Sách khoa học và công nghệ có hàm lượng tri thức chuyên môn cao, tính học thuật rõ nét và yêu cầu cập nhật kiến thức thường xuyên. Giá trị của sách khoa học và công nghệ nằm ở khả năng hỗ trợ nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyển giao công nghệ và lan tỏa tri thức chuyên ngành.

Dữ liệu học thuật, xuất bản học thuật và hệ thống truy cập tri thức đang trở thành cấu phần quan trọng của hạ tầng nghiên cứu trong kỷ nguyên số. Vì vậy, vai trò của nhà xuất bản hiện nay đang mở rộng sang quản trị dữ liệu học thuật, tổ chức phản biện khoa học, tích hợp dữ liệu nghiên cứu và phát triển hệ sinh thái học thuật số.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, hoạt động xuất bản sách khoa học và công nghệ đang chuyển dần từ mô hình xuất bản truyền thống sang mô hình xuất bản số và quản trị tri thức số. Các nhà xuất bản ngày càng tham gia sâu hơn vào quá trình quản lý dữ liệu khoa học, phát triển học liệu số, xây dựng cơ sở dữ liệu tri thức và kết nối các nguồn tài nguyên học thuật phục vụ nghiên cứu, đào tạo và đổi mới sáng tạo(2). Sự phát triển của ebook, thư viện số, dữ liệu học thuật mở, nền tảng học liệu trực tuyến và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, lưu trữ và phổ biến tri thức khoa học trên phạm vi toàn cầu. Chuyển đổi số đang thúc đẩy quá trình tái cấu trúc môi trường học thuật theo hướng mở, liên thông dữ liệu và tăng khả năng tiếp cận tri thức trong không gian số.

Chuyển đổi số trong lĩnh vực xuất bản là quá trình ứng dụng công nghệ số nhằm thay đổi toàn diện phương thức tổ chức, quản trị, sản xuất và phân phối xuất bản phẩm. Tuy nhiên, với xuất bản sách khoa học và công nghệ, chuyển đổi số còn bao gồm quá trình tái cấu trúc toàn bộ hệ sinh thái xuất bản theo hướng dữ liệu hóa, liên thông học thuật và quản trị tri thức số.

Giữa bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, dữ liệu khoa học ngày càng trở thành nguồn tài nguyên quan trọng của hoạt động nghiên cứu, đào tạo và đổi mới sáng tạo. Nhiều nghiên cứu cho thấy sự phát triển của công nghệ số đang làm thay đổi căn bản phương thức tạo lập, chia sẻ và khai thác tri thức trong xã hội hiện đại(3). Đối với hoạt động xuất bản sách khoa học và công nghệ, điều này đặt ra yêu cầu phát triển các hệ thống dữ liệu, thư viện số, học liệu số và các nền tảng kết nối tri thức nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, khai thác và sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học.

Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học mở (Open Science), xu hướng mở rộng khả năng tiếp cận các kết quả nghiên cứu khoa học thông qua môi trường số ngày càng được nhiều quốc gia quan tâm. UNESCO cho rằng khoa học mở góp phần thúc đẩy chia sẻ tri thức, tăng cường hợp tác nghiên cứu và nâng cao hiệu quả lan tỏa các thành tựu khoa học phục vụ phát triển bền vững (4). Trong xu thế đó, nhiều cơ sở nghiên cứu, trường đại học và nhà xuất bản trên thế giới đã từng bước phát triển các mô hình xuất bản số, thư viện số và cơ sở dữ liệu khoa học nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc tiếp cận và khai thác tri thức.

Truy cập mở không chỉ mở rộng khả năng tiếp cận tri thức mà còn góp phần nâng cao khả năng trích dẫn, lan tỏa học thuật và thúc đẩy công bằng trong tiếp cận thông tin khoa học. Nhiều quốc gia và tổ chức học thuật hiện nay đã phát triển mạnh các mô hình xuất bản học thuật mở gắn với cơ sở dữ liệu nghiên cứu, thư viện số và nền tảng dữ liệu học thuật quốc gia.

Đối với hoạt động xuất bản sách khoa học và công nghệ, chuyển đổi số vừa tạo ra cơ hội, vừa đặt ra nhiều yêu cầu mới. Một mặt, môi trường số giúp giảm chi phí lưu trữ, mở rộng khả năng tiếp cận độc giả và tăng tốc độ cập nhật tri thức khoa học. Mặt khác, các nhà xuất bản cũng phải đối mặt với những vấn đề mới như quản trị dữ liệu học thuật, bảo vệ bản quyền số, chuẩn hóa metadata và cạnh tranh trong môi trường học thuật mở.

Với Việt Nam, việc phát triển cơ sở dữ liệu học thuật, chuẩn hóa dữ liệu xuất bản và phát triển nền tảng xuất bản học thuật số đang trở thành yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao khả năng hội nhập học thuật quốc tế của xuất bản sách khoa học và công nghệ trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương quan trọng liên quan đến phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Các chủ trương này không chỉ tạo nền tảng chính trị cho phát triển kinh tế số mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ đối với hoạt động xuất bản trong bối cảnh mới.

Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019, của Bộ Chính trị, “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” đã nhấn mạnh yêu cầu phát triển hạ tầng số, thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới mô hình tăng trưởng trên cơ sở khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây là cơ sở quan trọng để thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có hoạt động xuất bản. Từ góc độ xuất bản, những định hướng của Nghị quyết số 52-NQ/TW tạo tiền đề cho việc hình thành môi trường xuất bản số, phát triển xuất bản điện tử và mở rộng khả năng tiếp cận tri thức trong xã hội.

Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu của phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu phát triển hạ tầng số, dữ liệu số, hạ tầng khoa học và công nghệ, đồng thời thúc đẩy hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Những định hướng này cho thấy hoạt động xuất bản, đặc biệt là xuất bản sách khoa học và công nghệ, không chỉ là một hoạt động văn hóa - tư tưởng mà còn là một bộ phận của hạ tầng tri thức phục vụ nghiên cứu khoa học, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển đổi mới sáng tạo. 

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Muốn đột phá về công nghệ, phải bắt đầu từ con người và cơ chế”, đồng thời, “Khoa học, công nghệ phải đi vào đời sống, phục vụ người dân, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí xã hộ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế”(5). Trong bối cảnh đó, xuất bản sách khoa học và công nghệ là phương thức quan trọng góp phần truyền bá tri thức khoa học, nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Đặc biệt, Chỉ thị số 04-CT/TW, ngày 17-3-2026, của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới đã đặt ra yêu cầu đổi mới toàn diện hoạt động xuất bản, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao chất lượng xuất bản phẩm và phát triển xuất bản số trong bối cảnh kinh tế số và xã hội số. Chỉ thị nhấn mạnh yêu cầu phải nâng cao chất lượng xuất bản phẩm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, phát triển xuất bản điện tử, tăng cường năng lực quản trị và xây dựng nền xuất bản hiện đại, chuyên nghiệp, nhân văn và hội nhập quốc tế. Đây là định hướng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với lĩnh vực xuất bản sách khoa học và công nghệ, khi yêu cầu phổ biến nhanh chóng các thành tựu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở nên cấp thiết.

Các chủ trương trên cho thấy hoạt động xuất bản nói chung và xuất bản sách khoa học và công nghệ nói riêng đang được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đối với xuất bản sách khoa học và công nghệ, điều đó đòi hỏi phải từng bước phát triển hạ tầng dữ liệu, nâng cao năng lực xuất bản số, tăng cường khả năng kết nối và lan tỏa tri thức khoa học, qua đó góp phần xây dựng hạ tầng tri thức quốc gia và thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Thực trạng chuyển đổi số trong xuất bản sách khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay

Hoạt động xuất bản sách khoa học và công nghệ ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có những chuyển biến đáng chú ý cả về nội dung, phương thức tổ chức xuất bản và mức độ ứng dụng công nghệ số. Các lĩnh vực được quan tâm nhiều nhất hiện nay tập trung vào trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, công nghệ số, dữ liệu lớn, năng lượng tái tạo và chuyển đổi số.

Nhu cầu đọc, học tập và cập nhật tri thức về các lĩnh vực công nghệ mới đang gia tăng nhanh, đặc biệt trong nhóm sinh viên, học viên sau đại học, giảng viên, kỹ sư công nghệ và cán bộ nghiên cứu. So với giai đoạn trước, người đọc hiện nay có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến sách chuyên khảo, sách dịch học thuật, tài liệu nghiên cứu liên ngành và học liệu số.

Bên cạnh đó, môi trường số đang tạo ra những thay đổi rõ nét đối với hoạt động xuất bản sách khoa học và công nghệ. Sự phát triển của mạng internet, thiết bị di động và các nền tảng học tập trực tuyến đã góp phần thay đổi phương thức tiếp cận tri thức khoa học của người đọc. Ebook, thư viện số và học liệu trực tuyến bước đầu giúp người dùng tiếp cận tài liệu nhanh hơn, linh hoạt hơn và ít phụ thuộc vào không gian vật lý của thư viện hoặc nhà sách truyền thống.

Tuy nhiên, hoạt động xuất bản sách khoa học và công nghệ hiện nay đối mặt với một số khó khăn mang tính đặc thù về thị trường, hiệu quả kinh tế, cơ chế quản lý và nguồn nhân lực học thuật.

Thứ nhất, xuất bản sách khoa học và công nghệ có quy mô thị trường nhỏ, vòng quay vốn chậm hơn nhưng chi phí đầu tư lại cao hơn đáng kể. Đối tượng độc giả của sách khoa học và công nghệ tương đối hẹp, chủ yếu tập trung ở giảng viên, sinh viên, học viên sau đại học và cán bộ nghiên cứu. Nhiều đầu sách chuyên khảo có số lượng in thấp, khả năng thu hồi vốn chậm trong khi chi phí biên tập học thuật, phản biện khoa học, dịch thuật chuyên ngành và mua bản quyền quốc tế lại khá cao.

Thứ hai, môi trường số cũng đang tạo ra những thách thức mới đối với hoạt động xuất bản học thuật. Sự phát triển của tài liệu miễn phí trên internet, PDF lậu, photocopy giáo trình và chia sẻ tài liệu trái phép trên các phương tiện truyền thông xã hội đang ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu và khả năng tái đầu tư của các nhà xuất bản. Trong bối cảnh người đọc ngày càng có xu hướng tiếp cận tri thức miễn phí hoặc sử dụng tài liệu trực tuyến, mô hình kinh tế truyền thống của xuất bản học thuật đang chịu nhiều áp lực thay đổi.

Thứ ba, đội ngũ biên tập viên có năng lực học thuật chuyên sâu chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Trong bối cảnh tri thức khoa học ngày càng phát triển nhanh và có tính liên ngành cao, yêu cầu đối với biên tập viên không chỉ là nghiệp vụ xuất bản mà còn là khả năng xử lý dữ liệu học thuật, thuật ngữ chuyên ngành và phản biện khoa học. Tuy nhiên, đội ngũ đáp ứng đồng thời các yêu cầu này hiện còn thiếu, đặc biệt tại các nhà xuất bản chuyên ngành quy mô nhỏ và trung bình. Đây được xem là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng biên tập và năng lực cạnh tranh của xuất bản sách khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay.

Thứ tư, việc triển khai truy cập mở tại Việt Nam gặp không ít khó khăn do thiếu cơ chế tài chính bù đắp chi phí xuất bản, thiếu hạ tầng dữ liệu học thuật dùng chung và thiếu cơ chế bảo vệ quyền lợi kinh tế của nhà xuất bản và tác giả. Điều này cho thấy quá trình phát triển xuất bản học thuật mở ở Việt Nam cần được triển khai đồng bộ với xây dựng cơ sở dữ liệu học thuật quốc gia, hoàn thiện cơ chế quản trị bản quyền số và phát triển hệ sinh thái xuất bản số hiện đại.

Thứ năm, hiệu quả thực tế của mô hình liên kết “Nhà nước - nhà xuất bản - viện nghiên cứu/trường đại học - doanh nghiệp” còn thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích, thiếu liên thông dữ liệu và thiếu cơ chế phối hợp dài hạn. Sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình đặt hàng, tài trợ hoặc khai thác kết quả nghiên cứu thông qua xuất bản phẩm chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu thực tiễn. Trong điều kiện chuyển đổi số, dữ liệu đang trở thành nguồn lực quan trọng của hoạt động nghiên cứu, đào tạo và đổi mới sáng tạo(6). Tuy nhiên, việc kết nối giữa nhà xuất bản, viện nghiên cứu, trường đại học, thư viện và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành hiện vẫn còn phân tán, gây khó khăn cho quá trình khai thác, phổ biến và sử dụng tri thức khoa học.

Định hướng chuyển đổi số trong xuất bản sách khoa học và công nghệ theo tinh thần Chỉ thị số 04-CT/TW

Hoạt động xuất bản sách khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay đang đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện cả về tư duy quản lý, mô hình hoạt động và hạ tầng dữ liệu học thuật. Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển kinh tế tri thức, hoạt động xuất bản sách khoa học và công nghệ đang chuyển dần sang mô hình quản trị tri thức số, dữ liệu học thuật và hệ sinh thái học thuật mở. Theo tinh thần Chỉ thị số 04-CT/TW, cần tập trung triển khai một số giải pháp sau:

Thứ nhất, cần tiếp tục đổi mới tư duy quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản theo hướng kiến tạo môi trường phát triển thay cho tư duy quản lý hành chính thuần túy. Việc triển khai Chỉ thị số 04-CT/TW cần được gắn với quá trình tập trung xây dựng nền xuất bản theo hướng “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”(7), “chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại”, có khả năng thích ứng với môi trường số và đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ trong giai đoạn mới. Cùng với việc bảo đảm chức năng quản lý nhà nước, cần quan tâm hơn đến các cơ chế hỗ trợ phát triển xuất bản học thuật, xuất bản sách khoa học và công nghệ và các mô hình xuất bản phục vụ đổi mới sáng tạo. Vì vậy, quản lý nhà nước không chỉ dừng ở quản lý quy trình xuất bản mà cần hướng tới xây dựng môi trường phát triển xuất bản học thuật số, hỗ trợ lan tỏa tri thức và nâng cao năng lực hiện diện học thuật của Việt Nam trong môi trường quốc tế.

Anh-tin-bai
Độc giả trải nghiệm sách điện tử_Ảnh: daibieunhandan.vn

Thứ hai, cần xây dựng và phát triển hạ tầng dữ liệu phục vụ hoạt động xuất bản khoa học và công nghệ gắn với chiến lược phát triển dữ liệu số và hạ tầng số quốc gia. Việc tăng cường kết nối giữa nhà xuất bản, viện nghiên cứu, trường đại học, thư viện và các cơ sở dữ liệu khoa học sẽ góp phần nâng cao khả năng lưu giữ, khai thác và lan tỏa tri thức khoa học. Đây cũng là điều kiện quan trọng để hình thành hạ tầng tri thức số quốc gia, nâng cao năng lực nghiên cứu, đào tạo và hội nhập quốc tế của khoa học Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi số.

Thứ ba, cần thúc đẩy phát triển mô hình nhà xuất bản số, đẩy mạnh xuất bản điện tử, học liệu số, thư viện số và quản trị bản quyền số. Trong bối cảnh hành vi tiếp cận tri thức của người đọc đang thay đổi mạnh mẽ, các nhà xuất bản sách khoa học và công nghệ cần chuyển dần từ mô hình xuất bản truyền thống sang mô hình phát triển đa nền tảng, tích hợp dữ liệu học thuật và dịch vụ học liệu số. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế quản lý và bảo vệ bản quyền số nhằm hạn chế tình trạng phát tán tài liệu trái phép trong môi trường internet.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế truy cập mở có kiểm soát đối với các công trình nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước. Đối với các công trình nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước, cần nghiên cứu các hình thức hỗ trợ phổ biến rộng rãi kết quả nghiên cứu, tạo điều kiện để cộng đồng khoa học, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp tiếp cận, khai thác hiệu quả các nguồn tri thức phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Quá trình này cần bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu lan tỏa tri thức với quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, nhà khoa học và nhà xuất bản.

Thứ năm, tăng cường liên kết giữa Nhà nước, nhà xuất bản, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp nhằm hình thành chuỗi liên kết từ nghiên cứu - xuất bản - phổ biến - ứng dụng tri thức khoa học. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chính sách và phát triển hạ tầng; nhà xuất bản tổ chức biên tập, phản biện và phổ biến tri thức; viện nghiên cứu và trường đại học cung cấp nguồn học thuật; doanh nghiệp tham gia ứng dụng, tài trợ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Đây được xem là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động xuất bản sách khoa học và công nghệ, đồng thời thúc đẩy hình thành hệ sinh thái tri thức số và đổi mới sáng tạo quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

Những định hướng trên không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động xuất bản sách khoa học và công nghệ mà còn tạo điều kiện để xuất bản thực hiện tốt hơn vai trò là cầu nối giữa nghiên cứu khoa học, đào tạo, đổi mới sáng tạo và phát triển đất nước trong kỷ nguyên số.

Như vậy, trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia, hoạt động xuất bản sách khoa học và công nghệ cần được nhìn nhận là một bộ phận quan trọng của hạ tầng tri thức quốc gia. Đây cũng là điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực nghiên cứu, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng cạnh tranh tri thức của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới./.

--------------------------

(1) Christine L. Borgman: Big Data, Little Data, No Data: Scholarship in the Networked World (Tạm dịch: Dữ liệu lớn, dữ liệu nhỏ, không dữ liệu: Học thuật trong một thế giới mạng), MIT Press, Cambridge, MA, 2015, tr. 3 - 15

(2) Christine L. Borgman: Big Data, Little Data, No Data: Scholarship in the Networked World (Tạm dịch: Dữ liệu lớn, dữ liệu nhỏ, không dữ liệu: Học thuật trong một thế giới mạng), MIT Press, Cambridge, MA, 2015, tr. 2 - 42

(3) OECD: Digital Innovation: Seizing Policy Opportunities (Tạm dịch: Đổi mới kỹ thuật số: Nắm bắt các cơ hội chính sách), OECD Publishing, Paris, 2019

(4) UNESCO: UNESCO Recommendation on Open Science (Tạm dịch: Khuyến nghị của UNESCO về Khoa học Mở), Paris, 2021

(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 32

(6) Xem: The Digital Transformation of Science, Technology and Innovation (Tạm dịch: Chuyển đổi số trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo), OECD, Paris, https://www.oecd.org/, 2023

(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 272

Bùi Minh Cường, Phó Giám đốc, Phó Tổng Biên tập Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông
Nguồn bài viết: Tạp chí Cộng sản
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1