Đồng âm tự vị - một trong những công trình từ điển chính tả tiếng Việt đầu tiên ở Việt Nam
Đồng âm tự vị (tên tiếng Pháp Petit Dictionnaire des homonymes annamites ) là một công trình từ điển cỡ nhỏ hướng dẫn học viết cho đúng các từ đồng âm (có âm giống nhau hoặc gần giống nhau, dễ gây nhầm lẫn khi viết) trong tiếng Việt do hai tác giả Nguyễn Văn Mai và Lê Quang Liêm biên soạn. Công trình được xuất bản lần đầu vào năm 1912 tại Sài Gòn, sau đó được tái bản lần thứ hai vào năm 1925.
Công trình gồm có 3 phần: phần đầu là ghi chú
nêu cách chú thích trong từ điển (chữ nho - kí hiệu Ch và chữ Nôm - kí hiệu N)
và cách sắp xếp mục từ một số trường hợp đặc biệt (âm tiết có phụ âm đầu là GI
đứng cùng với âm tiết có phụ âm đầu D, âm tiết có phụ âm đầu G đứng cùng với âm
tiết có phụ âm đầu GH, vần OA, UÊ, UY đứng cùng với âm tiết có phụ âm đầu H);
phần giữa là nội dung chính của từ điển và phần cuối là mội dung hiệu đính một
số mục từ chưa chính xác.

Khác với các công trình từ điển chính tả hiện
nay, Đồng âm tự vị chỉ thu thập một số trường hợp âm tiết phát
âm không có sự phân biệt ở các vùng phương ngữ, gồm: phụ âm đầu d-/gi-
(giập/giập, do/gio, dám/giám) ; vần oa, uê, uy có phụ âm đầu h và
không có phụ âm đầu h (hòa/òa, húy/úy, Huế/uế) ; phụ âm cuối -c/-t,
-ch/-t, -n/-ng (cúc/cút, khác/khát, bịch/bịt, ních/nít, chuồn/chuồng,
buồn/buồng); thanh điệu hỏi/ngã (ngải/ngãi, nhửng/những, chỉnh/chĩnh); nguyên
âm i/ie, u/uô (dìu/diều, lịu/liệu, cúi/cuối, múi/muối).
Các mục từ trong từ điển được sắp xếp theo các
vần từ A đến X (vần Y được xếp cùng với vần I). Ở mỗi vần, các âm tiết đồng âm
được sắp xếp theo từng cặp chính tả và theo trật tự bảng chữ cái của âm tiết
đầu trong mỗi cặp. Đây là điểm khác biệt trong cách sắp xếp mục từ của từ điển
so với các công trình từ điển chính tả khác, đó là kết hợp giữa sắp xếp mục từ
theo tùng cặp dễ nhầm lẫn và theo trật tự bảng chữ cái (các công trình từ điển
chính tả khác các mục từ hoặc sắp xếp theo trật tự chữ cái, hoặc sắp xếp theo
từng trường hợp chính tả). Chẳng hạn, ở vần C, sau âm tiết cả là
âm tiết đồng âm cã ( trường hợp chính tả về thanh điệu) , tiếp
đến là cặp âm tiết các/cát (trường hợp chính tả về phụ âm cuối), cúi/cuối,... .
Cụ thể như sau: cả, cã, các, cát, cải, cãi, can, cang, càn, càng, cán, cáng,
cắc, cắt, căn, căng, cỏi, cõi, cổ, cỗ, củ, cũ, cúc, cút, cục, cụt, cụi, cuội,
cúi, cuối, củi, cũi, cùn, cùng, củn, cũng, cuốn, cuống,... Đối với trường hợp
chính tả phụ âm đầu d-/gi-, các mục từ được sắp xếp ở Vần D. Ở vần này, bên
cạnh các mục từ là trường hợp chính tả phụ âm đầu d-/gi-, còn có các mục từ là
các trường hợp chính tả của mỗi âm tiết có phụ âm đầu d và gi. Chẳng hạn: da,
gia, dà, già, dá, giá, dạ, giạ, giã, dã (chính tả phụ âm đầu d-/gi-); giát,
giác (chính tả phụ âm cuối -c/-t); dìu/diều (chính tả nguyên âm i/ie).
Điểm khác biệt nữa ở công trình từ điển chính
tả này là từ điển thu thập tất cả các dạng đồng âm ngẫu nhiên của mỗi trường
hợp chính tả và đưa thành mục từ riêng để người dùng vừa có thể viết đùng chính
tả, vừa hiểu rõ được nghĩa của mỗi dạng đồng âm. Các công trình từ điển chính
tả xuất bản sau thường gộp vào một mục từ. Chẳng hạn: hàn (với nghĩa lạnh), hàn
(trong hàn lâm), hàn (với nghĩa nối liền bộ phận kim loại với nhau bằng cách
làm nóng chảy), hàn (với nghĩa chỗ để ngăn), hàng (trong hàng lối, xếp hàng),
hàng (với nghĩa đầu hàng), hàng (trong hàng hòm, trại hàng).
Cấu trúc thông tin đầy đủ của mục từ, gồm:
thông tin về nguồn gốc (chữ Hán, kí hiệu ch; chữ Nôm kí hiệu n); nghĩa (ngắn
gọn), nghĩa tương đương trong tiếng Pháp, dạng kết hợp trước/sau của âm tiết
mục từ với âm tiết khác (được thay bằng dấu -), lời giải thích bằng tiếng Pháp.
Chẳng hạn: Cổ ch Xưa: autrefois; kim ̶
: autrefois et aujourd'hui; Bàn ̶ : le premier home
de la terre, d'après les Chi-nois (vị thần khai thiên lập địa trong thần thoại
Trung Quốc); ̶ nhơn : les anciens; ̶ ngữ :
àdage ; ̶ lệ : tradition. Cỗ n ̶ bàn :
festin; lên ̶ : préparer un festin; ngồi ̶ :
assister à un festin; một ̶ xôi : un plateau
de riz gluant.
Là một cuốn từ điển chính tả cỡ nhỏ, dung
lượng hạn chế (162 trang) và mới chỉ phản ánh được một phần nhỏ các hiện tượng
chính tả trong tiếng Việt, tuy nhiên, Đồng âm tự vị có giá trị
trong việc hướng dẫn người dùng "học viết cho trúng chữ quốc-ngữ" như
mục tiêu mà công trình hướng tới. Sau cuốn từ điển này, đã xuất hiện hàng chục
công trình từ điển chính tả tiếng Việt tiếp nối từ đầu thế kỷ XX cho đến hiện
nay.