Sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên ở vùng dân tộc thiểu số và biên giới tỉnh Sơn La
Thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu “Quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc thiểu số vùng biên giới trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính ở nước ta hiện nay”, ngày 11 tháng 8 đoàn công tác của Viện Dân tộc học và Tôn giáo học do TS. Nguyễn Thẩm Thu Hà làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với các sở, ban, ngành tỉnh Sơn La nhằm tìm hiểu thực trạng sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc thiểu số, nhất là tại khu vực biên giới, trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính.
Anh-tin-bai
Đoàn công tác làm việc tại Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La 

Buổi làm việc được tổ chức tại Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La. Tham dự có ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường; đại diện Sở Nội vụ, Sở Dân tộc và Tôn giáo, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh; lãnh đạo, chuyên viên các đơn vị chuyên môn thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường cùng các thành viên đoàn công tác.

Tại buổi làm việc, TS. Nguyễn Thẩm Thu Hà giới thiệu khái quát mục tiêu, nội dung và kế hoạch khảo sát của đoàn. Nội dung trao đổi tập trung vào tình hình sử dụng và quản lý các nguồn tài nguyên đất, rừng, nước; khả năng tiếp cận tài nguyên và sự tham gia của đồng bào dân tộc thiểu số; tác động của việc sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính đến công tác quản lý tài nguyên; những thuận lợi, khó khăn trong quá trình điều hành và thực hiện chính sách của Nhà nước trong sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn tỉnh.

Sơn La có diện tích tự nhiên trên 1.410.889,9 km², dân số 1.355.226 người với 12 dân tộc cùng sinh sống; đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 83,76% dân số toàn tỉnh. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, tỉnh có 75 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 67 xã và 8 phường. Sản xuất nông nghiệp và các sinh kế gắn với đất, rừng vẫn giữ vai trò quan trọng đối với đời sống của người dân, đặc biệt tại các xã vùng sâu, vùng xa và biên giới.

Về tài nguyên rừng, các đại biểu đã trao đổi về công tác giao đất, giao rừng; khoán bảo vệ rừng; chi trả dịch vụ môi trường rừng; quản lý rừng cộng đồng và phát triển sinh kế dưới tán rừng. Diện tích rừng sản xuất của tỉnh hiện có trên 229.000 ha, trong đó hơn 77.000 ha đã được giao cho cá nhân và hộ gia đình. Tỉnh đang xây dựng kế hoạch phát triển rừng đa giá trị giai đoạn 2026–2030, gắn bảo vệ rừng với phát triển dược liệu, du lịch sinh thái và nâng cao thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, công tác quản lý rừng còn gặp khó khăn do một số khu vực chưa xác định rõ ranh giới giữa các loại rừng; tình trạng chồng lấn giữa đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp vẫn còn tồn tại; một số diện tích chưa có chủ thể quản lý cụ thể. Địa hình phức tạp, giao thông khó khăn và hiệu quả kinh tế từ trồng rừng chưa ổn định cũng ảnh hưởng đến sự tham gia của hộ gia đình và cộng đồng.

Đối với tài nguyên đất, nội dung thảo luận tập trung vào việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hỗ trợ đất ở và đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, giải quyết tình trạng chồng lấn đất đai và hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai. Tỉnh đang triển khai chuẩn hóa, làm sạch và đồng bộ dữ liệu đất đai với dữ liệu dân cư. Tuy nhiên, do hồ sơ được hình thành từ nhiều nguồn và qua các thời kỳ khác nhau, một số thông tin chưa thống nhất với thực địa, gây khó khăn cho việc giải quyết thủ tục và tranh chấp phát sinh.

Về tài nguyên nước, các đại biểu trao đổi về tình hình khai thác, sử dụng nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất, thủy lợi và thủy điện. Năm 2025, toàn tỉnh có khoảng 2.500 công trình thủy lợi, cung cấp nước tưới cho trên 34.000 ha; cùng với đó là hệ thống công trình cấp nước, khai thác nước mặt và nước ngầm. Mặc dù được quan tâm đầu tư, một số địa phương vẫn thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô. Công tác quan trắc, kiểm soát chất lượng nước và xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên nước còn hạn chế, trong khi cấp xã thiếu cán bộ được đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực này.

Đối với khu vực biên giới, quản lý đất, rừng và nguồn nước còn gắn với quản lý dân cư, hoạt động sản xuất, trao đổi hàng hóa và nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đại diện Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh đã chia sẻ một số thông tin về công tác phối hợp quản lý, bảo vệ rừng, nguồn nước và tài nguyên tại các xã biên giới Việt Nam – Lào. Sau khi vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nhiều thẩm quyền về quản lý đất đai và tài nguyên được phân cấp cho UBND cấp xã. Việc phân cấp góp phần đưa hoạt động quản lý đến gần người dân và rút ngắn đầu mối giải quyết thủ tục. Song tại một số xã, đội ngũ cán bộ chuyên môn còn thiếu, phải đảm nhiệm đồng thời nhiều lĩnh vực; hạ tầng công nghệ thông tin và trang thiết bị chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến việc cập nhật dữ liệu và xử lý công việc.

Tại buổi làm việc, các đại biểu cũng dành thời gian thảo luận về vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số trong quản lý tài nguyên thông qua các mô hình giao đất, giao rừng, rừng cộng đồng, sử dụng nguồn nước, quản lý bãi chăn thả và khai thác lâm sản ngoài gỗ. Các ý kiến cho thấy người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn là chủ thể trực tiếp sử dụng, bảo vệ và giám sát nguồn tài nguyên gắn với không gian cư trú và sinh kế của cộng đồng. Trong thực tiễn quản lý tài nguyên, pháp luật của Nhà nước có sự đan xen với tri thức địa phương, tập quán sử dụng tài nguyên và các hình thức tự quản cộng đồng. Trưởng bản, người có uy tín và các tổ chức cộng đồng giữ vai trò quan trọng trong tuyên truyền, vận động người dân, điều hòa lợi ích và xử lý những vấn đề phát sinh. Tuy nhiên, hiệu quả tham gia của cộng đồng còn phụ thuộc vào việc xác định rõ quyền sử dụng, trách nhiệm bảo vệ, cơ chế chia sẻ lợi ích và khả năng tiếp cận thông tin chính sách của người dân.

Sau buổi làm việc cấp tỉnh, đoàn công tác tiếp tục khảo sát tại địa bàn xã Lóng Sập, tiến hành phỏng vấn đại diện chính quyền cơ sở, cán bộ chuyên môn, trưởng bản, người có uy tín và các hộ dân. Hoạt động khảo sát tập trung tìm hiểu thực tiễn sử dụng đất sản xuất, quản lý rừng cộng đồng, khai thác và bảo vệ nguồn nước, chăn thả gia súc, khai thác lâm sản ngoài gỗ, cũng như những thay đổi trong quản lý và tiếp cận tài nguyên sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính.

Kết quả làm việc và khảo sát thực địa tại tỉnh Sơn La đã cung cấp nguồn tư liệu quan trọng để nhóm nghiên cứu tiếp tục đánh giá vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên; nhận diện những tác động của mô hình chính quyền địa phương hai cấp; từ đó đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo đảm sinh kế và phát huy vai trò chủ thể của đồng bào dân tộc thiểu số tại khu vực biên giới.

Sa Thị Thanh Nga
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Dân tộc học và Tôn giáo học
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1