Ngay từ khi thành lập, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Bảo
tàng) đã xác định nghiên cứu khoa học là nền tảng quan trọng cho mọi hoạt động
chuyên môn nghiệp vụ. Là đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
(Viện Hàn lâm), Bảo tàng không chỉ tiếp nhận các kết quả nghiên cứu từ các Viện
chuyên ngành mà còn chủ động chuyển hóa những tri thức học thuật thành các sản
phẩm văn hóa, giáo dục và trải nghiệm dành cho công chúng.
Bức tranh 54 dân tộc tại tòa Trống đồng, Bảo tàng DTHVN
Một trong những cơ sở khoa học có ý nghĩa đặc biệt đối với sự
hình thành và phát triển của Bảo tàng là kết quả nghiên cứu xác định thành phần
các dân tộc ở Việt Nam do Viện Dân tộc học thực hiện năm 1979 (nay là Viện Dân
tộc học và Tôn giáo học). Kết quả nghiên cứu này đã khẳng định Việt Nam có 54
dân tộc cùng sinh sống, tạo nền tảng khoa học quan trọng để Bảo tàng xây dựng
chiến lược nghiên cứu, sưu tầm và trưng bày hiện vật theo nguyên tắc bình đẳng
giữa các dân tộc, phản ánh đầy đủ sự đa dạng và phong phú của văn hóa Việt Nam.
Vận dụng các kết quả nghiên cứu về thành phần dân tộc và
phân nhóm ngôn ngữ, Bảo tàng đã lựa chọn một hướng đi riêng trong tổ chức trưng
bày thường xuyên. Thay vì sắp xếp theo chủ đề, các dân tộc được giới thiệu theo
nhóm ngôn ngữ, giúp khách tham quan có cái nhìn hệ thống hơn về mối quan hệ lịch
sử và văn hóa giữa các cộng đồng. Lộ trình tham quan đưa du khách từ Bắc vào
Nam, lần lượt khám phá các dân tộc thuộc 5 nhóm ngôn ngữ: Việt - Mường, Tày –
Thái - Kađai, Hmông – Dao, Hán - Tạng, Môn – Khơ-me, Nam Đảo. Cách tiếp cận này
giúp công chúng nhận diện những nét tương đồng và khác biệt trong đời sống văn
hóa của các dân tộc, qua đó hiểu sâu sắc hơn về sự thống nhất trong đa dạng của
cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Đây cũng là một trong những dấu ấn riêng làm nên
thương hiệu của Bảo tàng.
Không dừng lại ở hoạt động trưng bày thường xuyên, Bảo tàng
còn khai thác và ứng dụng nhiều kết quả nghiên cứu của các viện thuộc Viện Hàn
lâm để xây dựng các trưng bày chuyên đề, chương trình giáo dục, hoạt động trải
nghiệm và sản phẩm truyền thông. Thông qua đó, những kết quả nghiên cứu vốn được
công bố trong các công trình khoa học đã được chuyển tải đến công chúng bằng
ngôn ngữ trực quan, sinh động và dễ tiếp cận hơn.
Năm 2026 là minh chứng rõ nét cho sự gắn kết giữa nghiên cứu
khoa học xã hội với thực tiễn hoạt động bảo tàng dưới sự chỉ đạo của Viện Hàn
lâm. Trong 6 tháng đầu năm, nhiều hoạt động trưng bày đã được triển khai nhằm
lan tỏa các giá trị văn hóa và tri thức khoa học đến cộng đồng.
Tiêu biểu là trưng bày “Mừng Đảng, mừng Xuân: Gìn giữ giá trị
- Khát vọng vươn xa” (tháng 2-3/2026), giới thiệu những thành tựu nổi bật trong
nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.
Không gian trưng bày “Mừng Đảng, mừng Xuân: Gìn giữ giá trị - Khát vọng vươn xa” - Ảnh: An Thu Trà
Tháng 3/2026, Bảo tàng phối hợp với Trung tâm Văn hóa ASEAN
(ACH) thuộc Quỹ Giao lưu Quốc tế Hàn Quốc tổ chức trưng bày quốc tế “Weaving
Hands, Women’s Time: Weaving Traditions in ASEAN” (Những bàn tay dệt, Thời gian
của phụ nữ: Truyền thống dệt may ở ASEAN) tại Busan, Hàn Quốc. Thông qua việc
giới thiệu nghề dệt truyền thống và tri thức văn hóa của các quốc gia ASEAN,
trưng bày góp phần lan tỏa những kết quả nghiên cứu về văn hóa khu vực, đồng thời
quảng bá các giá trị văn hóa của Việt Nam và Đông Nam Á đến với bạn bè quốc tế.
Không gian trưng bày “Weaving Hands, Women’s Time: Weaving Traditions in ASEAN” - Ảnh: ACH-KF
Tiếp đó, ngày 11/4/2026, trưng bày “Không gian bảo tồn văn
hóa và lan tỏa tri thức khoa học xã hội” được khai mạc tại tòa Trống đồng của Bảo
tàng. Trưng bày này đã giới thiệu những thành tựu tiêu biểu của Viện Hàn lâm, đồng
thời cho thấy vai trò của Bảo tàng trong việc chuyển hóa các kết quả nghiên cứu
thành các sản phẩm văn hóa phục vụ xã hội.
Không gian trưng bày “Không gian bảo tồn văn hóa và lan tỏa tri thức khoa học xã hội” - Ảnh: Lê Nguyễn Phương Anh
Từ các kết quả nghiên cứu khoa học xã hội, đặc biệt là những
nghiên cứu về lịch sử, văn hóa và các dân tộc Việt Nam, Bảo tàng đã xây dựng được
một hệ thống trưng bày và hoạt động giáo dục mang bản sắc riêng, góp phần đưa
tri thức khoa học ra khỏi phạm vi học thuật để đến với đời sống xã hội. Đây
cũng là minh chứng sinh động cho hiệu quả của việc gắn kết nghiên cứu với thực
tiễn, đồng thời khẳng định vai trò của Bảo tàng trong việc bảo tồn, phát huy
các giá trị văn hóa dân tộc và lan tỏa tri thức khoa học xã hội đến đông đảo
công chúng trong nước và quốc tế./.