Nghiên cứu chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Liên minh châu Âu trong bối cảnh mới và gợi mở chính sách cho Việt Nam
Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm phát triển bền vững, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt từ các đối tác phát triển hàng đầu như Liên minh châu Âu (EU), có ý nghĩa thiết thực đối với quá trình hoàn thiện chính sách của Việt Nam. Xuất phát từ yêu cầu đó, TS. Hoa Hữu Cường đã chủ trì thực hiện đề tài khoa học cấp Bộ năm 2023-2024: “Chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong bối cảnh mới của Liên minh châu Âu và một số gợi mở chính sách cho Việt Nam”. Đề tài tập trung phân tích những điều chỉnh trong chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (STI) của EU trước những biến động sâu sắc của môi trường quốc tế, đồng thời đánh giá những kinh nghiệm có thể tham khảo cho Việt Nam trong quá trình phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và tăng cường hợp tác khoa học - công nghệ với EU.
Anh-tin-bai

           Thông qua việc thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu đã tập trung giải quyết được các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, từ việc nghiên cứu và đánh giá tiễn triển khai chính sách STI tại EU và một số nước thành viên như: CHLB Đức và Phần Lan, đề tài đã gợi mở một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng và triển khai chính sách STI trong bối cảnh bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: CMCN 4.0, cạnh tranh địa chính trị giữa các cường quốc, mục tiêu phát triển bền vững.. .Các kết quả mà đề tài đã đạt được cụ thể như:

            Thứ nhất, trong bối cảnh hiện nay việc thực hiện chính sách STI của EU và các nước thành viên bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, từ những yếu tố nội tại của khu vực cho đến yếu tố bên ngoài. Các yếu tố này sẽ ảnh hưởng và tác động đến mục tiêu phát triển của EU là hướng tới tăng trưởng bền vững, tăng trưởng bao trùm.

            Thứ hai, qua thực tiễn triển khai các chính sách phát triển STI tại cấp độ EU và một số nước thành viên như: CHLB Đức và Phần Lan cho thấy. Để thích ứng với các yếu tố của của bối cảnh mới, việc phát triển STI ở cấp EU tập trung vào phát triển sự phát triển bền vững, cải thiện chất lượng cuộc sống và tăng cường cạnh tranh toàn cầu của khu vực. Còn tại một số quốc gia thành viên, cụ thể như: CHLB Đức quan điểm và mục tiêu chính sách STI là đưa nước Đức trở thành quốc gia dẫn đầu về công nghệ ở cả khu vực và trên thế giới; nâng cao khả năng chuyển giao nghiên cứu; nước Đức trở nên cởi mở hơn về công nghệ còn tại Phần Lan, mục tiêu chính sách là hướng tới trở thành một quốc gia lãnh đạo thế giới về công nghệ vào năm 2030. Để đạt được các mục tiêu đề ra, EU cũng như các nước thành viên đã có những cách thức triển khai chính STI phù hợp qua các biện pháp và công cụ triển khai. Việc triển khai chính sách phát triển STI ở cả cấp độ khu vực là EU cho đến các nước thành viên đã những kết quả tích cực nhưng vẫn còn tồn tại một số hạn chế trong phát triển STI tại EU như: có sự phân tán về nguồn lực. và điều này dẫn đến nỗ lực trùng lặp, thiếu hiệu quả và thiếu sự phối hợp giữa các quốc gia thành viên; vẫn còn khoảng trống về nguồn tài trợ và sự bất bình đẳng; quy trình đăng ký và hành chính để tiếp cận nguồn tài trợ STI của EU phức tạp và tốn thời gian, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và các tổ chức nghiên cứu; các chính sách phát triển STI hiện nay tại EU đang có sự tập trung hạn chế vào tác động kinh tế xã hội; các chính sách phát triển STI hiện nay tại EU chưa hỗ trợ đầy đủ cho các hệ sinh thái đổi mới.

            Thứ ba, quan hệ STI giữa Việt Nam với EU cũng như các nước viên mà cụ thể ở đây là CHLB Đức và Phân Lan đang ngày càng được củng cố và phát triển. Nhờ sự hợp tác này mà phát triển KHCN và ĐMST của Việt Nam đã có những bước cải thiện rõ rệt từ cách tiếp cận trong triển khai chính sách cho đến các nguồn lực cho hỗ trợ phát triển STI.

            Cuối cùng, từ thực tiễn triển khai chính sách STI của EU và các nước như CHLB Đức và Phần Lan, đề tài đưa ra một số hàm ý chính sách cho Việt Nam trong việc phát triển STI trong bối cảnh hiện nay như: xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, chính sách nhằm tạo khuôn khổ cho phát triển STI; xác định những ngành, lĩnh vực đột phá để phát triển kinh tế số căn cứ vào thế mạnh và đặc điểm của từng nước; quan tâm giải quyết những mặt trái phát sinh trong phát triển STI; chú trọng phát triển nguồn nhân lực cho lĩnh vực STI, trong đó tập trung phát triển, thu hút các chuyên gia về STI; cách tiếp cận chính sách mang tính hệ thống và tích hợp cần có sự phối hợp và quản lý hiệu quả; cần một chiến lược quan trọng để có thể hấp thụ các cú sốc đối với nền kinh tế và xã hội là đầu tư vào xây dựng năng lực phù hợp và lâu dài.

            Nói tóm lại, trong bối cảnh hiện nay khi mà xuất hiện nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển quốc gia, xu hướng các nước, đặc biệt là tại khu vực phát triển trên thế giới như EU thì để đạt được các mục tiêu phát triển đề ra thì cần phải dựa vào động lực là STI, trong đó chính sách phát triển STI đóng vai trò nền tảng. Những kinh nghiệm từ việc triển khai chính sách STI trong bối cảnh hiện nay của EU và một số thành viên như: CHLB Đức và Phần Lan đã gợi mở rất nhiều hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng và triển khai chính sách nhằm phát triển STI để góp phần vào quá trình phát triển quốc gia. Hy vọng những kết quả nghiên cứu, đặc biệt là những hàm ý chính sách mà đề tài đưa ra sẽ cung cấp cho các nhà quản lý, những người làm chính sách STI của Việt Nam tham khảo để đưa ra và triển khai chính sách STI  có hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu phát triển được đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã được Đại hội Đảng lần thứ XIII thông qua./.

Kim Oanh
Nguồn bài viết: Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1