Khảo sát thực địa về hiện trạng thực hành các tiêu chuẩn về môi trường - xã hội và quản trị (esg) của các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản tại tỉnh Lâm Đồng
Thực hiện kế hoạch nghiên cứu của nhiệm vụ khoa học cấp Bộ “Thực hành ESG của các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản tại tỉnh Lâm Đồng: Thực trạng và giải pháp” do ThS. NCVC. Nguyễn Thị Thục làm Chủ nhiệm nhiệm vụ, Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững đã tổ chức Đoàn khảo sát thực địa tại tỉnh Lâm Đồng từ ngày 09/09 đến ngày 15/09/2026.
Ảnh 1. Đoàn công tác làm việc tại Trung tâm hành chính của tỉnh Lâm Đồng
Tỉnh Lâm Đồng là thủ phủ nông sản xuất khẩu lớn của cả nước, sở hữu trên 320.000 ha cà phê (sản lượng khoảng 1,0 - 1,28 triệu tấn/năm) và hơn 9.300 ha trà (sản lượng trên 120.000 tấn/năm). Trước áp lực từ các thị trường nhập khẩu lớn (EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Thái Lan, v.v.) về các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt và quy định mới như Quy định chống mất rừng của Liên minh Châu Âu (EUDR), việc áp dụng bộ tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) trở thành yêu cầu cấp thiết để duy trì và mở rộng thị phần của các ngành hàng nông sản.
Đoàn nghiên cứu đã tiến hành khảo sát các bên liên quan: từ các cơ quan quản lý cấp tỉnh (Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Chi cục Trồng trọt & Bảo vệ thực vật, Chi cục Quản lý chất lượng & Phát triển thị trường), chính quyền cấp xã/phường (UBND Phường 2 - Bảo Lộc, Xuân Trường - Đà Lạt) đến hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Lâm Đồng, các doanh nghiệp xuất khẩu trà và cà phê tiêu biểu (Voco, Tuấn Lộc Corp, Kim Điền, Tam Dương, Phước Lạc, Phú Sỹ, Vĩnh Hiệp...).
Ảnh 2. Đoàn công tác làm việc tại các doanh nghiệp xuất khẩu trà, cà phê của tỉnh Lâm Đồng
Qua quá trình khảo sát, làm việc với các bên liên quan cho thấy việc thực hành các tiêu chuẩn ESG tại các doanh nghiệp xuất khẩu và ngành nông nghiệp của tỉnh Lâm Đồng như sau:
* Nhóm yếu tố Môi trường (Environmental - E): Chuyển đổi xanh tích cực nhưng vướng rào cản pháp lý và kỹ thuật
· Ngành cà phê: Các doanh nghiệp đầu ngành đã chủ động áp dụng mô hình canh tác nông nghiệp tái sinh (regenerative agriculture), hướng tới mục tiêu cắt giảm 30% phát thải carbon trên mỗi tấn cà phê nhân (từ 3,2 tấn CO₂e xuống 2,4 tấn và phấn đấu còn 1,5 tấn). Việc ứng dụng công nghệ bóp tách vỏ tươi (Colombia) giúp giảm lượng nước sử dụng từ 0,5 lít xuống còn 0,2 lít/kg. Phụ phẩm như vỏ cà phê tươi được ủ làm phân bón vi sinh, vỏ lụa được tận dụng làm nhiên liệu đốt sấy, hoàn toàn không phát thải gây ô nhiễm. Tuy nhiên, việc số hóa dữ liệu vùng trồng định vị GPS gặp nhiều khó khăn do quy mô canh tác nhỏ lẻ. Lâm Đồng hiện có khoảng 31.000 ha cà phê bị vướng ranh giới đất quy hoạch lâm nghiệp/rừng, gây nghẽn tiến độ xác nhận tính hợp pháp của đất theo chuẩn EUDR.
· Ngành trà: Rào cản môi trường lớn nhất của ngành trà xuất khẩu (trà Ô long, trà xanh, trà đen) là dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật tồn dư lâu năm trong đất. Các thị trường nhập khẩu lớn (EU, Mỹ, Trung Quốc) liên tục nâng cao tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm, tính minh bạch, và các yêu cầu bảo vệ môi trường, phát triển bền vững. Chi phí cải tạo đất hữu cơ và lập hồ sơ chứng nhận quốc tế cao (trên 100 triệu đồng/bộ hồ sơ, hiệu lực ngắn từ 1–2 năm), khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ có xu hướng co cụm, chuyển sang các thị trường dễ tính hơn hoặc tiêu thụ nội địa.
* Nhóm yếu tố Xã hội (Social - S): Tăng cường chuỗi liên kết nhưng đối mặt nguy cơ thiếu hụt lao động
Chuỗi liên kết Doanh nghiệp - Nông dân: Doanh nghiệp đã thiết lập chuỗi liên kết bền vững với hàng trăm hộ dân (ví dụ: Voco liên kết 300 hộ; Kim Điền/Tam Dương liên kết diện tích hơn 120 ha), hỗ trợ kỹ thuật canh tác, cam kết không sử dụng lao động trẻ em (theo quy định nhập khẩu của Thái Lan) và thực hiện chính sách trả thưởng/trợ giá cho sản phẩm đạt chứng nhận.
Thách thức sinh kế và biến động diện tích: Lực lượng lao động nông nghiệp ngày càng già hóa, khan hiếm về lao động phổ thông. Thu nhập từ cây trà cạnh tranh kém so với cà phê, dâu tằm hay sầu riêng (1 ha trà mang lại lợi nhuận khoảng 100 triệu đồng/năm, trong khi cà phê hay dâu tằm đạt mức cao hơn đáng kể). Điều này dẫn đến tình trạng nông dân nhổ bỏ cây trà để chuyển đổi cây trồng, gây nguy cơ đứt gãy vùng nguyên liệu.
Áp lực tín dụng đen: Nông dân trồng cà phê/trà thường rơi vào vòng lặp “vay nợ đại lý” với lãi suất cao để mua phân bón, dẫn đến việc phải bán sản phẩm với giá thấp.
* Nhóm yếu tố Quản trị (Governance - G): Từ tuân thủ bị động đến nhu cầu đồng bộ hóa thể chế
ESG còn là khái niệm mới mẻ: Đa số các cơ quan quản lý cấp cơ sở và doanh nghiệp nhỏ chưa tiếp cận bài bản khái niệm ESG. Việc thực hành ESG hiện chủ yếu mang tính tuân thủ bị động theo yêu cầu bắt buộc của đối tác quốc tế (Starbucks C.A.F.E. Practices, 4C, Rainforest Alliance, FDA, Halal), mà chưa lập báo cáo phát triển bền vững (Sustainability Report) tự nguyện định kỳ.
Sự phân tán trong công tác hỗ trợ: Doanh nghiệp phản ánh tình trạng thiếu một đầu mối tư vấn tập trung, chuyên sâu về các rào cản kỹ thuật phi thuế quan. Các chương trình xúc tiến thương mại và kết nối giao thương giữa các sở, ngành đôi khi còn chồng chéo, chưa đi vào chiều sâu tư vấn pháp lý.
Vấn đề thiếu đồng bộ thể chế: Chương trình sản xuất và tiêu dùng bền vững tại địa phương gặp khó khăn trong việc triển khai các nguồn vốn hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp do thiếu các thông tư hướng dẫn quy định chi tiết mức chi từ trung ương.
Những thông tin, dữ liệu thu thập được từ đợt khảo sát là cơ sở khoa học quan trọng để nhóm nghiên cứu phân tích SWOT việc thực hành ESG trong các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê và trà của tỉnh Lâm Đồng, từ đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản có thể chuyển đổi từ tuân thủ sang tự nguyện thực hiện các tiêu chuẩn ESG để phát triển bền vững hơn.