Chủ trì hội thảo có TS. Phạm Anh Tuấn – Phó Viện trưởng; TS. Hà Thị Hồng Vân – Phó Viện trưởng; TS. Hoàng Thế Anh – Phó Viện trưởng; TS. Nguyễn Bình Giang – Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế; PGS.TS. Bùi Quang Tuấn cùng toàn thể cán bộ của viện; Về phía diễn giả khách mời có TS. Phạm Minh Thái – Khoa Tài chính, Trường Kinh tế, Đại học Công nghiệp Hà Nội; TS. Nguyễn Minh Đạt – Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, hội thảo còn có một số đại biểu đến từ các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học và các tổ chức khác.
Phiên 1: Những nội dung mới của lực lượng sản xuất trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và gợi mở cho Việt Nam
Phiên thảo luận thứ nhất, nằm trong khuôn khổ nhiệm vụ khoa học cấp Bộ do TS. Nguyễn Hồng Thu, Trưởng phòng Phòng Kinh tế Quốc tế và Hội nhập, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới làm chủ nhiệm. Tại phiên này, các đại biểu đã tập trung phân tích sự thay đổi mang tính bước ngoặt của các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất dưới tác động của công nghệ 4.0 và những ý nghĩa chiến lược của nó đối với Việt Nam
TS. Phạm Minh Thái trong tham luận “Những nội dung mới của lực lượng sản xuất trong bối cảnh CMCN lần thứ tư” chỉ ra sự chuyển dịch từ lao động cơ bắp sang lao động trí tuệ và tư duy sáng tạo. Tham luận phân tích những thay đổi cốt lõi của lực lượng sản xuất trong giai đoạn này dựa trên lý luận của C. Mác về vai trò quyết định của con người. Tác giả nhấn mạnh rằng khoa học và công nghệ, mặc dù là lực lượng sản xuất trực tiếp, chỉ phát huy tác dụng thông qua con người vận dụng chúng vào thực tiễn sản xuất. Bên cạnh đó, tham luận làm rõ những tác động đa chiều của CMCN 4.0 lên kinh tế, xã hội và môi trường Việt Nam.

TS. Phạm Minh Thái trình bày tại Hội thảo
ThS. Hoàng Thị Hồng Minh, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, trình bày kinh nghiệm quản trị nguồn lực dữ liệu từ Trung Quốc qua ba tầng chiến lược: pháp luật (xây dựng khung pháp lý rõ ràng về quyền và trách nhiệm), liên thông (giảm phân mảnh dữ liệu qua tiêu chuẩn hoá và kết nối liên ngành), và khai thác (chuyển đổi giá trị tiềm năng thành giá trị kinh tế). Chiến lược “Đông dữ liệu, Tây tính toán” của Trung Quốc phản ánh nỗ lực phân bô hợp lý các nguồn lực. Tác giả đề xuất cho Việt Nam các gợi mở chính sách về luật hoá quyền dữ liệu, quy hoạch hạ tầng số đồng bộ, kiểm soát an niên dữ liệu, phát triển sàn giao dịch dữ liệu có kiểm soát, và hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp hỗ trợ khai thác dữ liệu.

ThS. Hoàng Thị Hồng Minh trình bày tại Hội thảo
Trong tham luận “Phát triển lực lượng sản xuất mới ở Việt Nam – Cơ hội và thách thức”, TS. Nguyễn Hồng Thu nhận định Việt Nam đang đứng trước cơ hội bứt phá nhưng cần quyết liệt trong việc đào tạo nhân lực công nghệ cao. Mặc dù Việt Nam có thế mạnh về tuổi trẻ, khả năng nhạy bén (68% lao động văn phòng thường xuyên sử dụng AI – cao nhất Đông Nam Á), nhưng hơn 70% lao động Việt Nam vẫn chưa qua đào tạo bài bản. Chỉ số Sẵn sàng Kỹ năng số của Việt Nam theo WEF cho thấy sự sụt giảm: từ vị trí 54/140 quốc gia (2021) xuống 42/140 (2025). Giai đoạn 2025–2030, Việt Nam dự báo sẽ thiếu 150–200 nghìn kỹ sư CNTT mỗi năm, đặc biệt thiết kế bán dẫn (88%), AI và khoa học dữ liệu (76,7%), an niên mạng (73,8%). Tuy nhiên, kinh tế số đang là động lực tăng trưởng: giá trị tăng thêm từ 46 tỷ USD (2021) lên 72,1 tỷ USD (2025), chiếm 14,02% GDP so với mục tiêu 20%.

TS. Nguyễn Thị Hồng Thu trình bày tại Hội thảo
Phiên 2: Một số giải pháp thúc đẩy thu hút FDI trong lĩnh vực du lịch ở Việt Nam trong bối cảnh mới
Phiên tham luận thứ hai nằm trong khuôn khổ nhiệm vụ khoa học cấp Bộ do TS. Phạm Bích Ngọc, Phó Trưởng phòng Kinh tế Vi mô và Phát triển Doanh nghiệp, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới làm chủ nhiệm. Nội dung phiên định hình lại chiến lược thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao vào ngành du lịch, từ góc độ cơ sở lý luận, thực trạng, và tác động kinh tế – xã hội.
Mở đầu phiên hai với tham luận “Một số vấn đề lý luận thu hút FDI trong lĩnh vực du lịch” của ThS. Bùi Thị Hồng Ngọc, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, làm rõ tiêu chuẩn FDI “chất lượng cao” phải gắn liền với năng lực quản trị quốc tế và tiêu chuẩn ESG. Tham luận trình bày cơ sở lý luận thu hút FDI trong lĩnh vực du lịch và làm rõ vai trò của FDI du lịch trong phát triển bền vững. FDI du lịch tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ: gia tăng nguồn thu ngoại tệ, kích thích tiêu dùng, phát triển chuỗi cung ứng liên ngành, tạo việc làm và nâng cao năng lực cộng đồng tại vùng sâu vùng xa.
TS. Phạm Bích Ngọc trình bày thực trạng thu hút FDI du lịch giai đoạn 2000–2024, nhấn mạnh hiện tượng “M&A ngược” khi các tập đoàn trong nước chủ động mua lại tài sản FDI để nội sinh hoá giá trị. Tác giả phát hiện một mâu thuẫn quan trọng: mặc dù du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam, tỷ trọng FDI du lịch trong tổng FDI không tương xứng, thậm chí đang giảm. Tỷ trọng TFDI trong FDI đăng ký hàng năm giảm từ 2,0% (2014) xuống 0,4% (2024). Năm 2024, TFDI đăng ký chỉ 138 triệu USD, rất nhỏ so với các ngành khác. Cấu trúc FDI du lịch lệch về lưu trú và bất động sản nghỉ dưỡng, lan tỏa tới doanh nghiệp Việt còn chọn lọc. Thông điệp chính là chuyển từ "thu hút vốn" sang "chọn lọc giá trị".

TS. Phạm Bích Ngọc trình bày tại Hội thảo
TS. Nguyễn Minh Đạt chứng minh tác động tích cực của FDI du lịch bằng mô hình kinh tế lượng, sử dụng dữ liệu bảng từ 63 tỉnh/thành phố (2013–2023). Nghiên cứu cho thấy đầu tư du lịch, giáo dục, GRDP và đô thị hóa có tác động tích cực đến phát triển xã hội, trong đó phát triển cơ sở hạ tầng. Việc phát triển xã hội không chỉ tập trung ở một yếu tố nhất định, mà còn là sự kết hợp giữa yếu tố khác nhau như FDI, phát triển kinh tế, giáo dục và khả năng đô thị hóa. Mặc dù vẫn còn một số rào cản nhất định trong hoạch định chính sách, Việt Nam cần có những đánh giá cẩn trọng và phù hợp nhằm đẩy mạnh tăng trưởng, tiến tới các phúc lợi bền vững
Kết luận hội thảo, Ban Tổ chức đánh giá cao các ý kiến trao đổi, phản biện của các chuyên gia và đại biểu tham dự. Các ý kiến đóng góp sẽ được Ban chủ nhiệm các đề tài tiếp thu, nghiên cứu và hoàn thiện báo cáo trong thời gian tới.
Hội thảo đã diễn ra thành công tốt đẹp.