Tham dự Hội thảo, có TS. Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, cùng toàn thể cán bộ của Viện. Về phía diễn giả có TS. Trần Thị Vân Anh, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới; ThS. Chu Việt Cường, Nguyên Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ phát triển công nghiệp; ThS. Trần Văn Hoàng, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới.

Toàn cảnh Hội thảo
Mở đầu Hội thảo là tham luận “Cơ sở lý luận về chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam trong bối cảnh mới” của TS. Trần Thị Vân Anh. Tham luận làm rõ các khái niệm nền tảng về công nghiệp hỗ trợ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ. Tác giả phân loại chính sách thành hai nhóm công cụ chủ yếu gồm nhóm hỗ trợ phát triển và nhóm ưu đãi đầu tư. Đồng thời, tham luận chỉ ra 7 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách. Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc và Malaysia, tác giả nhấn mạnh yêu cầu tăng cường điều phối chính sách, phát triển cụm công nghiệp hỗ trợ, nâng cấp doanh nghiệp nội địa và tích hợp số hóa, ESG trong giai đoạn mới.

Tham luận “Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam từ năm 2015 đến nay” của ThS.Chu Việt Cường đã tổng kết quá trình hoàn thiện khung pháp lý từ Nghị định 111/2015/NĐ-CP đến Nghị định 205/2025/NĐ-CP và Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026–2035. Theo tác giả, sau gần 10 năm triển khai chính sách, số lượng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đã tăng từ khoảng 2.200–2.500 doanh nghiệp lên gần 7.000 doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp đã tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia như Samsung, LG và Toyota. Bên cạnh những kết quả đạt được, tham luận cũng chỉ ra các hạn chế về quy mô doanh nghiệp, trình độ công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa và liên kết với khu vực FDI.
Với tham luận “Thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam từ năm 2015 đến nay”, ThS. Trần Văn Hoàng chỉ rõ số lượng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tăng từ 22,6 nghìn doanh nghiệp năm 2015 lên 52,2 nghìn doanh nghiệp năm 2024, song phần lớn vẫn là doanh nghiệp quy mô nhỏ. Tác giả chỉ ra thực trạng tỷ trọng doanh nghiệp điện tử trong tổng số doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ gần như không thay đổi trong nhiều năm, trong khi khoảng cách về vốn giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước tiếp tục gia tăng. Bên cạnh đó, diễn giả nhấn mạnh rằng giai đoạn tới cần chuyển trọng tâm từ việc gia tăng số lượng doanh nghiệp sang phát triển các nhà cung ứng đạt chuẩn thông qua nâng cấp công nghệ, đạt các chứng nhận kỹ thuật và tăng cường kết nối đơn hàng.
Trong phần thảo luận, TS. Phí Vĩnh Tường nhấn mạnh sự cần thiết phải đặt vấn đề phát triển công nghiệp hỗ trợ trong bối cảnh mới của cạnh tranh nước lớn, tái cấu trúc chuỗi cung ứng và tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0. Theo TS. Phí Vĩnh Tường, các công nghệ mới như in 3D, quét 3D đang làm thay đổi cấu trúc chuỗi cung ứng truyền thống, đặt ra yêu cầu thích ứng đối với doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. TS. Phí Vĩnh Tường cũng đề nghị làm rõ cơ sở lý luận cho sự can thiệp của Nhà nước đối với lĩnh vực này, đồng thời lưu ý việc đánh giá chính sách cần dựa trên các số liệu thực chất thay vì chỉ nhìn vào tốc độ tăng trưởng tương đối. Bên cạnh đó, chuyển giao công nghệ chỉ có thể diễn ra hiệu quả khi hình thành được niềm tin chiến lược giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.

Dẫn chứng từ mô hình của Đức, TS. Lý Đại Hùng khuyến khích doanh nghiệp Việt hướng tới trở thành các "Nhà vô địch ẩn danh", trong đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ tập trung chuyên sâu vào một sản phẩm hoặc công đoạn cụ thể để tạo lợi thế cạnh tranh toàn cầu. TS. Lý Đại Hùng cũng lưu ý những thách thức từ làn sóng đầu tư mới của doanh nghiệp Trung Quốc khi nhiều doanh nghiệp mang theo hệ sinh thái cung ứng riêng, tạo áp lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp nội địa. Đồng thời, đề xuất tận dụng các dự án quy mô lớn như đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam để hình thành và phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ mới.

ThS. Võ Hải Minh đề xuất nhóm nghiên cứu cần bám sát các văn bản mới nhất như Nghị định 2005/2025/CP và Quyết định 929/QĐ-TTg về chương trình phát triển CNHT giai đoạn 2026 - 2030. Đây là những căn cứ thực tế quan trọng nhất để định nghĩa "bối cảnh mới" và xây dựng các khuyến nghị chính sách có tính thực thi cao.
TS. Tống Thị Mỹ Thi lưu ý rằng tính khả thi của chính sách cần được đặt trọng tâm đánh giá ở giai đoạn thiết kế hoặc tiền thiết kế, thay vì chỉ tập trung vào khâu tổ chức thực hiện. Khác với góc nhìn thận trọng của TS. Phí Vĩnh Tường, TS. Tống Thị Mỹ Thi tin tưởng hoàn toàn có thể thúc đẩy chuyển giao công nghệ thông qua các phương thức chuyển giao có điều kiện và các mô hình hợp tác linh hoạt.
Kết luận hội thảo, Ban Tổ chức đánh giá cao các ý kiến trao đổi, phản biện của các chuyên gia và đại biểu tham dự. Các ý kiến đóng góp sẽ được Ban chủ nhiệm các đề tài tiếp thu, nghiên cứu và hoàn thiện báo cáo trong thời gian tới.
Hội thảo đã diễn ra thành công tốt đẹp.