Úng dụng chuyển đổi số trong khắc phục rủi ro thông qua hệ thống trợ giúp xã hội vùng trung du và miền núi: tổng quan chính sách và khuyến nghị giải pháp
MỞ ĐẦU
Vùng trung du và miền núi Việt Nam có vị trí chiến lược về phát
triển kinh tế, xã hội, quốc phòng và an ninh, đồng thời là địa bàn cư trú chủ
yếu của đồng bào dân tộc thiểu số. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019,
Việt Nam có 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,7% dân số cả nước, trong đó phần lớn
sinh sống tại khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện kết cấu hạ
tầng và khả năng tiếp cận các dịch vụ công còn nhiều hạn chế (Ban Chỉ đạo Tổng
điều tra dân số và nhà ở Trung ương, 2019). Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và
miền núi vẫn là khu vực có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn nhiều khó
khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao hơn đáng kể so với bình quân cả nước và là địa bàn
trọng điểm trong thực hiện các chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội và phát
triển bền vững (Tổng cục Thống kê & Ủy ban Dân tộc, 2020).
Bên cạnh những khó khăn về điều kiện phát triển, vùng trung du
và miền núi còn là khu vực chịu tác động mạnh của thiên tai và biến đổi khí hậu
chẳng hạn như nguy cơ xảy ra lũ quét, lũ ống, sạt lở đất, rét đậm, rét hại và
hạn hán cục bộ, gây thiệt hại đáng kể về người, tài sản và sinh kế của người
dân. Theo Báo cáo tổng kết công tác phòng, chống thiên tai năm 2024, khu vực
miền núi phía Bắc tiếp tục là địa bàn chịu thiệt hại nặng nề do mưa lớn, lũ
quét và sạt lở đất, cho thấy mức độ rủi ro thiên tai ngày càng gia tăng dưới
tác động của biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025). Trong khi
đó, sinh kế của phần lớn hộ gia đình trong khu vực vẫn phụ thuộc vào sản xuất
nông nghiệp, lâm nghiệp và khai thác tài nguyên thiên nhiên nên dễ bị tổn
thương trước các cú sốc do thiên tai, dịch bệnh và biến động kinh tế.
Trong bối cảnh đó, trợ giúp xã hội giữ vai trò là một trong
những công cụ quan trọng của Nhà nước nhằm bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ các
nhóm dân cư dễ bị tổn thương khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh và các rủi
ro khác. Tuy nhiên, quá trình tổ chức thực hiện các chính sách trợ giúp xã hội
ở nhiều địa phương vẫn còn phụ thuộc vào hồ sơ giấy, dữ liệu phân tán và quy
trình xác minh thủ công, làm kéo dài thời gian xác định đối tượng thụ hưởng,
ảnh hưởng đến hiệu quả hỗ trợ khẩn cấp và công tác giám sát, đánh giá việc thực
hiện chính sách.
Nhằm hiện đại hóa nền hành chính và nâng cao hiệu quả cung cấp
dịch vụ công, Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng thúc
đẩy chuyển đổi số chẳng hạn như Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình
Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 xác định mục tiêu
phát triển Chính phủ số, xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia và cung cấp dịch
vụ công lấy người dân làm trung tâm, Quyết định số 06/QĐ-TTg về phát triển ứng
dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử. Đây là tiền đề quan
trọng để từng bước chuyển từ phương thức quản lý hành chính truyền thống sang
quản trị dựa trên dữ liệu, đáp ứng yêu cầu quản trị rủi ro trong bối cảnh các
rủi ro tự nhiên và xã hội ngày càng gia tăng.
Mặc dù khuôn khổ chính sách về chuyển đổi số và trợ giúp xã hội
đã từng bước được hoàn thiện, việc triển khai tại vùng trung du và miền núi vẫn
còn gặp nhiều khó khăn do điều kiện hạ tầng số chưa đồng đều, dữ liệu giữa các
ngành còn phân tán, năng lực quản trị dữ liệu của chính quyền cơ sở còn hạn chế
và khả năng tiếp cận dịch vụ số của một bộ phận người dân, nhất là đồng bào dân
tộc thiểu số, còn nhiều khác biệt. Đồng thời, các nghiên cứu hiện nay chủ yếu
tập trung vào chuyển đổi số trong quản lý nhà nước hoặc đánh giá chính sách trợ
giúp xã hội như những chủ đề riêng biệt; trong khi các nghiên cứu phân tích vai
trò của chuyển đổi số trong nâng cao hiệu quả thực thi chính sách trợ giúp xã
hội nhằm hỗ trợ quản trị rủi ro tại vùng trung du và miền núi Việt Nam vẫn còn
tương đối hạn chế. Từ bối cảnh đó, bài viết tập trung phân tích vai trò của
chuyển đổi số trong nâng cao hiệu quả khắc phục rủi ro thông qua hệ thống trợ
giúp xã hội ở vùng trung du và miền núi Việt Nam; làm rõ cơ sở chính sách,
những cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai, từ đó đề xuất một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách trợ giúp xã hội, tăng
cường khả năng tiếp cận của các nhóm dân cư dễ bị tổn thương và góp phần xây
dựng hệ thống an sinh xã hội hiện đại, bao trùm và thích ứng với yêu cầu chuyển
đổi số quốc gia.
1. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu (desk
research), phù hợp với tính chất của một nghiên cứu tổng quan chính sách.
Nghiên cứu sử dụng hai nhóm phương pháp chính. Thứ nhất, phương pháp phân tích
tài liệu thứ cấp được áp dụng để khai thác các số liệu thống kê chính thống,
bao gồm kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở, Điều tra thu thập thông tin về
thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số do Tổng cục Thống kê và Ủy
ban Dân tộc thực hiện, cùng các báo cáo chuyên ngành của Bộ Nông nghiệp và Môi
trường, Bộ Thông tin và Truyền thông về công tác phòng, chống thiên tai và phát
triển hạ tầng số. Thứ hai, phương pháp tổng hợp và phân tích chính sách (policy
analysis) được sử dụng để rà soát, hệ thống hóa nội dung các văn bản quy phạm
pháp luật có liên quan như Nghị quyết số 15-NQ/TW, Nghị định số 20/2021/NĐ-CP,
Quyết định số 749/QĐ-TTg, Quyết định số 06/QĐ-TTg và Nghị quyết số 57-NQ/TW, từ
đó nhận diện khung thể chế, những khoảng trống chính sách và cơ sở đề xuất giải
pháp. Việc kết hợp hai phương pháp này cho phép bài viết vừa bảo đảm tính khách
quan, khoa học của các luận điểm thông qua dữ liệu và văn bản pháp lý đã được
công bố chính thức, vừa khắc phục hạn chế do không có điều kiện tiến hành khảo
sát hoặc phỏng vấn thực địa tại vùng trung du và miền núi.
2. Khung khái niệm về chuyển đổi số trong quản trị rủi ro và trợ
giúp xã hội
Trong nghiên cứu về an sinh xã hội, rủi ro được hiểu là những
biến cố hoặc cú sốc có khả năng làm suy giảm thu nhập, sức khỏe, tài sản hoặc
điều kiện sống của cá nhân và hộ gia đình, có thể xuất phát từ nguyên nhân tự
nhiên như thiên tai, biến đổi khí hậu, dịch bệnh hoặc từ các yếu tố kinh tế -
xã hội như mất việc làm, suy giảm sinh kế và khủng hoảng kinh tế. Mặc dù không
thể loại bỏ hoàn toàn các rủi ro này, Nhà nước có thể giảm thiểu tác động của
chúng thông qua các chính sách phòng ngừa, ứng phó và khắc phục, trong đó hệ
thống an sinh xã hội giữ vai trò là một trong những công cụ quan trọng
(International Labour Organization [ILO], 2021). Trong phạm vi bài viết này,
rủi ro được tiếp cận chủ yếu dưới góc độ rủi ro thiên tai, biến đổi khí hậu và
các cú sốc sinh kế tại vùng trung du và miền núi Việt Nam – những rủi ro có tác
động trực tiếp đến đời sống của các nhóm dân cư dễ bị tổn thương và làm gia
tăng nhu cầu trợ giúp xã hội. Theo đó, quản trị rủi ro được hiểu là quá trình
tổ chức và thực thi các chính sách nhằm hạn chế tác động của rủi ro, trong đó
trợ giúp xã hội là công cụ quan trọng của Nhà nước trong giai đoạn khắc phục
hậu quả và phục hồi sinh kế.
Theo ILO, trợ giúp xã hội (social assistance) là các chương
trình hỗ trợ bằng tiền, hiện vật hoặc dịch vụ xã hội được tài trợ từ ngân sách
nhà nước nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu cho các nhóm dân cư dễ bị tổn thương
và không dựa trên nguyên tắc đóng góp như bảo hiểm xã hội (ILO, 2021). Ở Việt
Nam, trợ giúp xã hội được xác định là một trong những trụ cột của hệ thống an
sinh xã hội: Nghị định số 20/2021/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội
thường xuyên đối với đối tượng bảo trợ xã hội và trợ giúp xã hội đột xuất đối
với cá nhân, hộ gia đình gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh hoặc
các sự kiện bất khả kháng khác.
Để trợ giúp xã hội thực hiện được vai trò này một cách kịp thời
và chính xác, chuyển đổi số được xác định là phương thức đổi mới then chốt.
Theo cách tiếp cận của OECD, chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ mà
còn là sự đổi mới về thể chế, quy trình quản lý và phương thức cung cấp dịch vụ
công (OECD, 2019). Tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành các chương trình, quyết
định về chuyển đổi số nhằm xây dựng chính phủ số, kinh tế số, xã hội số thông
qua xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia, phát triển nền tảng số và cung cấp
dịch vụ công, trong đó có yêu cầu kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với
các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, bao gồm dữ liệu an sinh xã hội (Quyết định số
749/QĐ-TTg, 2020; Quyết định số 06/QĐ-TTg, 2022). Trên cơ sở đó, nghiên cứu này
tiếp cận chuyển đổi số trong quản trị công là quá trình đổi mới phương thức
quản lý và cung cấp dịch vụ công dựa trên dữ liệu số, công nghệ số và kết nối
liên thông giữa các cơ sở dữ liệu nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi
chính sách.
Kết hợp các khái niệm nêu trên, nghiên cứu tiếp cận chuyển đổi
số trong trợ giúp xã hội là quá trình ứng dụng dữ liệu số, cơ sở dữ liệu dùng
chung, định danh điện tử và các nền tảng số để đổi mới việc quản lý, tổ chức
thực hiện và giám sát chính sách trợ giúp xã hội – qua đó chuyển đổi số trở
thành công cụ để trợ giúp xã hội thực hiện chức năng quản trị rủi ro hiệu quả
hơn, chứ không phải là mục tiêu tự thân. Mục tiêu của quá trình này không chỉ
là số hóa hồ sơ hay cung cấp dịch vụ công trực tuyến mà còn nâng cao khả năng
kết nối dữ liệu, xác định đúng đối tượng thụ hưởng, điều phối nguồn lực và tổ
chức hỗ trợ nhanh chóng, minh bạch và chính xác. Trong bối cảnh vùng trung du
và miền núi Việt Nam thường xuyên chịu tác động của thiên tai và các cú sốc
sinh kế, chuyển đổi số có vai trò hỗ trợ các cơ quan quản lý khai thác hiệu quả
Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành để theo dõi
biến động của các nhóm dễ bị tổn thương, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ,
tăng cường giám sát quá trình chi trả và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách.
3. Thực trạng ứng dụng chuyển đổi số: Rào cản và khoảng trống
chính sách
Ứng dụng chuyển đổi số trong khắc phục rủi ro thông qua hệ thống
trợ giúp xã hội ở Việt Nam không được điều chỉnh bởi một văn bản pháp luật
riêng biệt mà được hình thành trên cơ sở kết nối của ba nhóm chính sách lớn:
(i) chính sách an sinh xã hội và trợ giúp xã hội; (ii) chính sách chuyển đổi số
và phát triển dữ liệu; và (iii) chính sách phòng, chống thiên tai. Các chính
sách này tạo thành một khung thể chế thống nhất, trong đó mỗi văn bản đảm nhiệm
một vai trò khác nhau nhưng có mối quan hệ bổ trợ, hướng tới mục tiêu nâng cao
hiệu quả quản trị rủi ro và bảo đảm trợ giúp xã hội kịp thời, chính xác, minh
bạch, đặc biệt tại các địa bàn thường xuyên chịu tác động của thiên tai như
vùng trung du và miền núi. Nội dung, vai trò trong chuỗi chính sách và ý nghĩa
cụ thể của từng văn bản đối với việc khắc phục rủi ro thông qua hệ thống trợ
giúp xã hội được tổng hợp tại Bảng 1.
Bảng 1. Khung chính sách về ứng dụng chuyển
đổi số trong khắc phục rủi ro thông qua hệ thống trợ giúp xã hội ở Việt Nam
|
Văn
bản chính sách
|
Nội
dung trọng tâm
|
Vai
trò trong chuỗi chính sách
|
Ý
nghĩa đối với khắc phục rủi ro thông qua hệ thống trợ giúp xã hội
|
|
Nghị
quyết số 15-NQ/TW (2012)
|
Phát
triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện.
|
Xác
lập mục tiêu chính sách an sinh xã hội.
|
Định
hướng xây dựng hệ thống trợ giúp xã hội như công cụ bảo đảm an sinh và tăng
cường khả năng ứng phó với rủi ro.
|
|
Nghị
định số 20/2021/NĐ-CP (2021)
|
Quy định chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên và đột xuất.
|
Quy
định công cụ thực hiện chính sách trợ giúp xã hội.
|
Tạo
cơ sở pháp lý trực tiếp để hỗ trợ người dân khi gặp thiên tai, dịch bệnh và
các rủi ro khác; là nền tảng để ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý đối
tượng và tổ chức thực hiện chính sách.
|
|
Nghị
quyết số 57-NQ/TW (2024)
|
Đột
phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
|
Định
hướng chuyển đổi số trong quản trị quốc gia.
|
Tạo
cơ sở chính trị cho việc ứng dụng dữ liệu số và công nghệ số nhằm nâng cao
hiệu quả quản trị rủi ro.
|
|
Quyết
định số 749/QĐ-TTg (2020)
|
Chương
trình Chuyển đổi số quốc gia.
|
Xây
dựng hạ tầng và nền tảng số.
|
Tạo
nền tảng để hiện đại hóa hoạt động quản lý nhà nước và nâng cao chất lượng
cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực trợ giúp xã hội.
|
|
Quyết
định số 06/QĐ-TTg (2022)
|
Phát
triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử.
|
Kết
nối và khai thác dữ liệu phục vụ thực thi chính sách.
|
Hỗ
trợ xác định đúng đối tượng, liên thông dữ liệu an sinh xã hội, rút ngắn thời
gian xử lý hồ sơ và nâng cao hiệu quả trợ giúp xã hội khi xảy ra rủi ro.
|
|
Luật
Phòng, chống thiên tai năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2020)
|
Quy
định hoạt động phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai.
|
Cung
cấp dữ liệu và thông tin đầu vào cho quản trị rủi ro.
|
Hỗ
trợ đánh giá thiệt hại, xác định nhu cầu cứu trợ và cung cấp thông tin phục
vụ triển khai trợ giúp xã hội sau thiên tai.
|
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Nghị quyết số 15-NQ/TW (2012); Quyết
định số 749/QĐ-TTg (2020); Nghị định số 20/2021/NĐ-CP (2021); Quyết định số
06/QĐ-TTg (2022); Luật Phòng, chống thiên tai năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm
2020); Nghị quyết số 57-NQ/TW (2024).
Khung chính sách hiện hành tạo nền tảng để từng bước chuyển từ
phương thức quản lý trợ giúp xã hội chủ yếu dựa trên hồ sơ giấy sang quản trị
dựa trên dữ liệu số. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai tại vùng trung du và miền
núi cho thấy hai nhóm rào cản và khoảng trống chính sách.
3.1. Về hạ tầng số và khả năng tiếp cận
Việc triển khai chuyển đổi số trong trợ giúp xã hội tại vùng
trung du và miền núi Việt Nam vấp phải rào cản kỹ thuật xuất phát từ khoảng
cách số (digital divide) giữa nhóm dân cư này với mặt bằng chung cả nước. Với
quy mô 14.123.255 người, chiếm 14,7% dân số cả nước (Ban Chỉ đạo Tổng điều tra
dân số và nhà ở Trung ương, 2019), đồng bào dân tộc thiểu số vừa là nhóm đối
tượng đông đảo cần được quản lý bằng dữ liệu số, vừa là nhóm có mức độ sẵn sàng
số thấp hơn đáng kể. Kết quả Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế
– xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019 cho thấy trong khi 92,5% hộ gia đình
dân tộc thiểu số có điện thoại (cố định và di động), tỷ lệ hộ sử dụng internet
chỉ đạt 61,3%, và đặc biệt tỷ lệ hộ sử dụng máy vi tính chỉ đạt 10,3% (Tổng cục
Thống kê & Ủy ban Dân tộc, 2020). Khoảng cách giữa tỷ lệ sở hữu thiết bị
viễn thông cơ bản và khả năng khai thác các nền tảng số đòi hỏi thao tác phức
tạp hơn – như kê khai định danh điện tử mức 2 hay xác thực sinh trắc học – cho
thấy việc phổ cập điện thoại thông minh chưa đồng nghĩa với năng lực số thực
chất của người dân.
Rào cản này càng rõ nét khi đặt trong tương quan với tình trạng
nghèo của nhóm dân cư này: năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo là người dân tộc thiểu số
chiếm tới 61,29% tổng số hộ nghèo cả nước, thu nhập bình quân đầu người chỉ
bằng khoảng 0,3 lần mức bình quân chung cả nước (dẫn theo VnEconomy, 2023); đến
đầu năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn
ở mức khoảng 17,82% (Ủy ban Dân tộc, 2024). Với mức thu nhập và trình độ học
vấn còn hạn chế, một bộ phận người dân, đặc biệt là người cao tuổi hoặc hạn chế
về tiếng Việt, gặp khó khăn trong việc tự thực hiện các bước xác thực điện tử
trên thiết bị di động, dẫn đến nguy cơ bị bỏ lại phía sau ngay trong chính quá
trình số hóa vốn được thiết kế nhằm phục vụ họ tốt hơn.
Về hạ tầng kỹ thuật, mặc dù tỷ lệ phủ sóng điện thoại di động
băng rộng 4G của Việt Nam đã đạt 99,8% dân số, tính đến cuối năm 2023 cả nước
vẫn còn khoảng 420 điểm lõm sóng, trong đó 150 điểm chưa được kéo điện lưới,
tập trung chủ yếu tại các thôn, bản vùng sâu, vùng xa, miền núi (Bộ Thông tin
và Truyền thông, 2023). Việc thiếu điện ổn định không chỉ ảnh hưởng đến khả
năng phủ sóng viễn thông mà còn cản trở việc sạc thiết bị di động, vận hành các
điểm truy cập dịch vụ công trực tuyến và duy trì hoạt động của hệ thống định
danh điện tử tại cơ sở. Đáng chú ý, khoảng cách hạ tầng này đối lập với mục
tiêu đặt ra tại Quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông thời kỳ 2021–2030,
tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 805/QĐ-TTg, 2024), theo đó đến năm 2025,
100% dân số trưởng thành có điện thoại thông minh và 100% hộ gia đình có khả
năng tiếp cận cáp quang khi có nhu cầu. Điều này cho thấy chính sách hạ tầng số
hiện hành mới tập trung vào chỉ tiêu phủ sóng và phổ cập thiết bị ở cấp độ quốc
gia, chưa có cơ chế ưu tiên nguồn lực và lộ trình cụ thể để thu hẹp khoảng cách
hạ tầng tại nhóm địa bàn đặc thù. Như vậy, có thể nhận diện ba rào cản cụ thể
trong triển khai chuyển đổi số tại vùng trung du và miền núi: (i) thiếu hạ tầng
viễn thông và điện lưới ổn định tại các điểm lõm sóng; (ii) hạn chế về thiết bị
và kỹ năng số phù hợp với các thao tác xác thực điện tử phức tạp; và (iii) rào
cản về trình độ học vấn, ngôn ngữ khiến một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số
khó tự thực hiện định danh điện tử nếu không có hỗ trợ trực tiếp – trong khi
chính sách quốc gia về hạ tầng số vẫn thiếu cơ chế đặc thù để thu hẹp những
khoảng cách này.
3.2. Về quản trị dữ liệu và quy trình thực hiện
Cùng với rào cản về hạ tầng, việc phân định thẩm quyền của chính
quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025 đã chuyển nhiều thủ tục trợ giúp xã
hội từ cấp huyện về cấp xã, góp phần rút ngắn quy trình hành chính và nâng cao
tính chủ động của chính quyền cơ sở trong tiếp nhận, thẩm định và quyết định
trợ giúp xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định đối tượng thụ hưởng,
đánh giá mức độ thiệt hại và tổng hợp nhu cầu hỗ trợ vẫn chủ yếu dựa trên hoạt
động kiểm tra thực địa và đối chiếu thủ công giữa nhiều cơ sở dữ liệu chưa được
liên thông – dân cư, bảo trợ xã hội và phòng, chống thiên tai – làm phát sinh
độ trễ trong việc phê duyệt, phân bổ nguồn lực và triển khai trợ giúp khẩn cấp,
đặc biệt tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc, nơi thường xuyên chịu tác
động của mưa lớn, lũ quét và sạt lở đất. Trong khi đó, các nhu cầu thiết yếu
như lương thực, nước sạch, chỗ ở tạm thời và chăm sóc y tế thường phát sinh
ngay trong những ngày đầu sau thiên tai.
Nguyên nhân trực tiếp của độ trễ này nằm ở sự phân tán và thiếu
liên thông dữ liệu giữa ngành an sinh xã hội và ngành phòng, chống thiên tai.
Mặc dù khung chính sách hiện hành đã xác lập định hướng kết nối Cơ sở dữ liệu
quốc gia về dân cư với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, bao gồm dữ liệu an sinh
xã hội (Quyết định số 06/QĐ-TTg, 2022), thực tiễn triển khai cho thấy khoảng
cách còn khá lớn giữa khung pháp lý và năng lực kết nối dữ liệu trên thực tế.
Theo phản ánh tại một cuộc kiểm tra công tác phòng, chống thiên tai gần đây,
công tác chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu, hệ thống chỉ huy điều hành và
cảnh báo sớm trong lĩnh vực thiên tai hiện vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, đồng thời
cơ chế thông tin, báo cáo giữa các cơ quan còn chồng chéo, thiếu một đầu mối
thống nhất tổng hợp dữ liệu thiệt hại (dẫn theo Báo Chính phủ, 2026; Nhân Dân,
2026), dẫn đến tình trạng số liệu không thống nhất giữa các cấp, gây áp lực cho
chính quyền cơ sở và làm chậm quá trình chỉ đạo, điều hành hỗ trợ. Điều này cho
thấy dữ liệu về thiệt hại thiên tai, vốn là căn cứ trực tiếp để xác định đối
tượng và mức trợ giúp xã hội đột xuất theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP, hiện
chưa được kết nối, chia sẻ theo thời gian thực với hệ thống quản lý đối tượng
bảo trợ xã hội.
Đây là một khoảng trống quan trọng của khung chính sách hiện
hành: các văn bản về chuyển đổi số và kết nối dữ liệu như Quyết định số
06/QĐ-TTg, Nghị quyết số 57-NQ/TW mới dừng lại ở việc xác lập nguyên tắc kết
nối liên ngành nói chung, chưa có quy định, quy chuẩn kỹ thuật cụ thể về chia
sẻ dữ liệu thiệt hại thiên tai cho mục đích xác định đối tượng trợ giúp xã hội.
Hệ quả là mỗi lần xảy ra rủi ro, cán bộ cơ sở phải thực hiện lại toàn bộ quy
trình kê khai, xác minh bằng hồ sơ giấy, thay vì có thể đối chiếu tức thời dữ
liệu thiệt hại với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để xác định nhanh đối tượng
thụ hưởng theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP. Hai hệ thống dữ liệu – an sinh xã
hội và phòng, chống thiên tai – trên thực tế vẫn vận hành độc lập, thiếu khả
năng kết nối với nhau, khiến hiệu quả của trợ giúp xã hội đột xuất tiếp tục bị
hạn chế cho dù cải cách tổ chức bộ máy đã góp phần rút ngắn quy trình hành
chính.
4. Khuyến nghị và kết luận
4.1. Khuyến nghị
Kết quả phân tích tại Mục 3 cho thấy, chuyển đổi số không phải
là giải pháp có thể tự thân giải quyết mọi thách thức của hệ thống trợ giúp xã
hội. Hiệu quả của quá trình này phụ thuộc trước hết vào mức độ hoàn thiện của
hạ tầng số, khả năng liên thông và chia sẻ dữ liệu, chất lượng cơ sở dữ liệu
chuyên ngành cũng như năng lực số của đội ngũ cán bộ và người dân. Nếu quá
trình chuyển đổi số chỉ tập trung đầu tư vào công nghệ mà chưa quan tâm đầy đủ
đến việc phát triển hạ tầng, nâng cao năng lực số cho cộng đồng và thiết kế các
cơ chế hỗ trợ phù hợp với đặc thù của vùng khó khăn thì khoảng cách số (digital
divide) có thể làm gia tăng sự chênh lệch trong khả năng tiếp cận dịch vụ công
và chính sách an sinh xã hội, trở thành một dạng bất bình đẳng mới chồng lấn
lên những bất bình đẳng về điều kiện phát triển vốn đã tồn tại giữa các vùng,
miền. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất ba nhóm giải pháp cụ thể sau:
(1) Hoàn thiện mô hình kết nối dữ liệu quốc gia về dân cư với dữ
liệu thiệt hại thiên tai để tự động hóa xác định đối tượng thụ hưởng
Nghiên cứu đề xuất hoàn thiện một mô hình kết nối dữ liệu cụ thể
giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư theo Quyết định số 06/QĐ-TTg với dữ liệu
về thiệt hại thiên tai được thu thập theo quy định của Luật Phòng, chống thiên
tai. Về nguyên tắc vận hành, khi chính quyền cấp xã xác nhận thiệt hại thiên
tai đối với một hộ gia đình theo quy trình của Luật Phòng, chống thiên tai,
thông tin này cần được cập nhật trực tiếp vào một cơ sở dữ liệu dùng chung, cho
phép đối chiếu tự động với thông tin định danh, hộ khẩu và tình trạng hưởng trợ
giúp xã hội hiện có của hộ gia đình đó trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Trên cơ sở đối chiếu này, hệ thống có thể hỗ trợ cán bộ cơ sở sàng lọc trước
danh sách đối tượng đủ điều kiện trợ giúp xã hội đột xuất theo Nghị định số
20/2021/NĐ-CP, thay vì phải khởi động lại toàn bộ quy trình kê khai bằng hồ sơ
giấy. Việc này không thay thế thẩm quyền quyết định hỗ trợ của Ủy ban nhân dân
các cấp, nhưng có thể rút ngắn đáng kể thời gian tổng hợp, xác minh hồ sơ, qua
đó nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu cứu trợ khẩn cấp. Để triển khai mô hình
này, cần xác định rõ một cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm chuẩn hóa và tổng hợp
dữ liệu thiệt hại, phù hợp với kiến nghị về việc thống nhất đầu mối thông tin,
báo cáo trong phòng, chống thiên tai đã được nêu tại các cuộc họp chỉ đạo gần
đây (dẫn theo Báo Chính phủ, 2026).
(2) Chuyển đổi số bao trùm thông qua mạng lưới cộng tác viên tại
cộng đồng
Đối chiếu với thực trạng khoảng cách số tại vùng trung du và
miền núi đã phân tích tại Mục 3.1, việc đòi hỏi người dân, đặc biệt là đồng bào
dân tộc thiểu số lớn tuổi, hạn chế về tiếng Việt hoặc trình độ học vấn, tự thực
hiện ngay các thao tác định danh điện tử và dịch vụ công trực tuyến trên điện
thoại thông minh là chưa phù hợp với năng lực số hiện có. Do đó, nghiên cứu
khuyến nghị nhân rộng mô hình mạng lưới cộng tác viên chuyển đổi số tại cộng
đồng, dựa trên kinh nghiệm thực tiễn của mô hình Tổ công nghệ số cộng đồng được
thành lập theo Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tại một số địa phương
miền núi như Nghệ An, Quảng Ngãi, Gia Lai, các tổ công nghệ số cộng đồng do bí
thư chi bộ hoặc trưởng thôn làm tổ trưởng đã trực tiếp hướng dẫn người dân kích
hoạt tài khoản định danh điện tử, cài đặt ứng dụng và nộp hồ sơ trực tuyến ngay
tại nhà văn hóa thôn, bản (dẫn theo VietNamNet, 2026; Bộ Khoa học và Công nghệ,
2026). Trên cơ sở mô hình đã có, nghiên cứu đề xuất gắn thêm chức năng cụ thể
cho mạng lưới này trong lĩnh vực trợ giúp xã hội, bao gồm: (i) hỗ trợ hộ gia
đình bị ảnh hưởng bởi thiên tai kê khai, cập nhật thông tin thiệt hại lên hệ
thống dữ liệu dùng chung ngay sau khi rủi ro xảy ra; (ii) hướng dẫn xác thực
định danh điện tử cho nhóm đối tượng bảo trợ xã hội thường xuyên theo Nghị định
số 20/2021/NĐ-CP; và (iii) đóng vai trò cầu nối phản hồi thông tin giữa người
dân với chính quyền cơ sở trong trường hợp hạ tầng viễn thông tại thôn, bản còn
gián đoạn. Cách tiếp cận chuyển đổi số bao trùm này cho phép quá trình số hóa
trợ giúp xã hội không bỏ lại nhóm dân cư dễ bị tổn thương nhất, đồng thời tận
dụng được nguồn lực xã hội sẵn có tại cộng đồng thay vì chỉ dựa vào hạ tầng
công nghệ.
(3) Mở rộng chi trả không dùng tiền mặt và dịch vụ công trực
tuyến gắn với quản trị rủi ro chủ động
Việc triển khai Chương trình Chuyển đổi số quốc gia theo Quyết
định số 749/QĐ-TTg, Đề án 06 theo Quyết định số 06/QĐ-TTg và Chỉ thị số
21/CT-TTg về thúc đẩy chuyển đổi số trong chi trả an sinh xã hội không dùng
tiền mặt đã tạo nền tảng quan trọng để chuẩn hóa dữ liệu, nâng cao hiệu quả xác
định đối tượng thụ hưởng, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính và
tăng cường tính công khai, minh bạch trong thực hiện chính sách an sinh xã hội
(Thủ tướng Chính phủ, 2020; Thủ tướng Chính phủ, 2022a; Thủ tướng Chính phủ,
2022b). Nghiên cứu khuyến nghị đẩy nhanh việc nhân rộng chi trả trợ cấp không
dùng tiền mặt, kết hợp với mạng lưới cộng tác viên chuyển đổi số nêu trên để hỗ
trợ nhóm đối tượng chưa có tài khoản ngân hàng hoặc gặp khó khăn trong giao
dịch điện tử. Đồng thời, cần gắn kết dữ liệu an sinh xã hội với các hệ thống
thông tin chuyên ngành về khí tượng thủy văn và phòng, chống thiên tai, tạo
tiền đề để từng bước chuyển từ cách tiếp cận hỗ trợ sau rủi ro sang quản trị
rủi ro chủ động – dự báo sớm nhóm dân cư có nguy cơ chịu ảnh hưởng để chuẩn bị
nguồn lực trợ giúp xã hội trước khi rủi ro xảy ra.
4.2. Kết luận
Từ những phân tích trên có thể khẳng định rằng, chuyển đổi số
cần được nhìn nhận như một công cụ chiến lược để nâng cao hiệu quả quản trị rủi
ro thông qua hệ thống trợ giúp xã hội tại vùng trung du và miền núi, chứ không
chỉ là quá trình ứng dụng công nghệ trong quản lý hành chính. Việc kết nối dữ
liệu dân cư với dữ liệu an sinh xã hội và thiên tai, mở rộng mạng lưới cộng tác
viên số tại cộng đồng và đẩy mạnh chi trả không dùng tiền mặt là những bước đi
cụ thể để hiện thực hóa mục tiêu đó.
Trong thời gian tới, chuyển đổi số trong lĩnh vực trợ giúp xã
hội chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được triển khai theo hướng bao trùm, lấy
người dân làm trung tâm, đồng thời gắn với các cơ chế chính sách đặc thù phù
hợp với điều kiện của vùng trung du và miền núi. Có như vậy, hệ thống trợ giúp
xã hội mới thực sự phát huy vai trò là "lưới an sinh" hiện đại, linh
hoạt và có khả năng ứng phó hiệu quả với các rủi ro trong bối cảnh phát triển
mới của đất nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương. (2019).
Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019. Nhà xuất bản Thống kê.
Bộ Khoa học và Công nghệ. (2026). Lan tỏa chuyển đổi số đến
người dân vùng dân tộc thiểu số. https://mst.gov.vn/lan-toa-chuyen-doi-so-den-nguoi-dan-vung-dan-toc-thieu-so-19726042209044417.htm
Bộ Nông nghiệp và Môi trường. (2025). Báo cáo tổng kết công tác
phòng, chống thiên tai năm 2024. Hà Nội.
Bộ Thông tin và Truyền thông. (2023). Dẫn theo VnExpress, Việt
Nam đạt tỷ lệ phủ sóng 4G hơn các nước thu nhập cao.
https://vnexpress.net/viet-nam-dat-ty-le-phu-song-4g-hon-cac-nuoc-thu-nhap-cao-4673989-tong-thuat.html
Cổng Dịch vụ công Quốc gia. (n.d.). Thủ tục trợ giúp xã hội khẩn
cấp về hỗ trợ làm nhà ở, sửa chữa nhà ở. Truy cập từ https://dichvucong.gov.vn
Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. (2026). Không để bị động, bất
ngờ, kiểm tra toàn diện công tác phòng, chống thiên tai tại các địa phương.
https://baochinhphu.vn/khong-de-bi-dong-bat-ngo-kiem-tra-toan-dien-cong-tac-phong-chong-thien-tai-tai-cac-dia-phuong-102260709191527349.htm
International Labour Organization. (2021). World Social
Protection Report 2020–22: Social protection at the crossroads – in pursuit of
a better future. Geneva: ILO.
Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2021 quy định
chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội. (2021). Chính phủ.
https://vanban.chinhphu.vn/?docid=202811&pageid=27160
Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01 tháng 6 năm 2012 về một số vấn đề
về chính sách xã hội giai đoạn 2012–2020. (2012). Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa XI.
Nhân Dân. (2026). Nâng cao hiệu quả phòng ngừa, ứng phó thiên
tai. https://nhandan.vn/nang-cao-hieu-qua-phong-ngua-ung-pho-thien-tai-post970442.html
Organisation for Economic Co-operation and Development. (2019).
Going Digital: Shaping Policies, Improving Lives. Paris: OECD Publishing.
Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06 tháng 01 năm 2022 phê duyệt Đề
án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ
chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022–2025, tầm nhìn đến năm 2030. (2022). Thủ
tướng Chính phủ.
Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03 tháng 6 năm 2020 phê duyệt
Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
(2020). Thủ tướng Chính phủ.
https://chinhphu.vn/default.aspx?docid=200163&lang=vi&pageid=27160
Quyết định số 805/QĐ-TTg ngày 07 tháng 8 năm 2024 phê duyệt Kế
hoạch thực hiện Quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông thời kỳ 2021–2030,
tầm nhìn đến năm 2050. (2024). Thủ tướng Chính phủ.
Tổng cục Thống kê & Ủy ban Dân tộc. (2020). Kết quả điều tra
thu thập thông tin về thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm
2019. Nhà xuất bản Thống kê.
Ủy ban Dân tộc. (2024). Tổng kết công tác dân tộc năm 2023,
triển khai nhiệm vụ năm 2024. Dẫn theo Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bình Phước,
Tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số ước còn khoảng 17,82%.
https://binhphuoc.gov.vn/vi/news/tin-tuc-su-kien-421/ty-le-ho-ngheo-dan-toc-thieu-so-uoc-con-khoang-17-82-35203.html
VietNamNet. (2026). 40km vùng cao không còn là trở ngại nhờ tổ
công nghệ số cộng đồng.
https://vietnamnet.vn/40km-vung-cao-khong-con-la-tro-ngai-nho-to-cong-nghe-so-cong-dong-2514530.html
VnEconomy. (2023). Giảm nghèo thông tin cho đồng bào dân tộc
thiểu số. https://vneconomy.vn/giam-ngheo-thong-tin-cho-dong-bao-dan-toc-thieu-so.htm