Vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường
Tóm tắt: Trong những năm qua cho thấy, môi trường Việt Nam đang đứng trước những thách thức rất lớn, như: tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường cùng với thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn… ngày càng nhanh, với cường độ mạnh, khó lường. Nhận thức được vai trò quan trọng của bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã luôn coi bảo vệ môi trường là vấn đề cốt yếu. Đảng đã có nhiều chủ trương về bảo vệ môi trường thể hiện trong các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến Đại hội XIII. Các quan điểm của Đảng được thể chế vào các văn bản pháp luật đã cơ bản góp phần quan trọng thực hiện kiểm soát ô nhiễm môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn đa dạng sinh học… Tuy nhiên, bên cạnh các thành tựu đạt được, thực tiễn thực hiện bảo vệ môi trường ở nước ta còn những hạn chế, bất cập. Vì vậy bài viết nói về vai trò của sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường. Đồng thời đưa ra một số giải pháp để nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường.  

Từ khóa: Vai trò, Đảng và Nhà nước, môi trường

Abstract: In recent years, Vietnam’s environment has faced major challenges, including environmental pollution and degradation, as well as natural disasters, epidemics, climate change, sea level rise, and saltwater intrusion, all of which have been occurring more rapidly, intensely, and unpredictably. Recognizing the important role of environmental protection in the process of socio-economic development, the Communist Party and the State of Vietnam have always regarded environmental protection as an essential issue. The Party has introduced numerous policies on environmental protection, reflected in the Documents of the National Congresses from the 6th Congress to the 13th Congress. The Party’s viewpoints have been institutionalized into legal documents, which have fundamentally contributed to controlling environmental pollution; exploiting and using natural resources rationally, economically, and efficiently; and conserving biodiversity. However, besides the achievements obtained, the practical implementation of environmental protection in Vietnam still faces several limitations and shortcomings. Therefore, this article discusses the leadership role of the Party and the State in environmental protection. At the same time, it proposes several solutions to enhance the Party’s leadership role and the State’s management effectiveness in environmental protection activities.

Keywords: Role, Party and State, environment.

1. Đặt vấn đề.

Môi trường ngày càng trở thành vấn đề nóng của thời đại, của toàn cầu, ảnh hưởng ngày càng lớn đến phát triển kinh tế bền vững, đến chất lượng cuộc sống, sức khỏe của nhân dân. Ở nước ta, vấn đề bảo vệ môi trường ngày càng trở thành vấn đề cấp thiết. Thực tiễn này đặt ra nhu cầu phát triển kinh tế phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Vì vậy cần có sự chỉ đạo và lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển kinh tế đồng thời bảo vệ môi trường. Trong thời gian vừa qua, công tác bảo vệ môi trường ở nước ta đã có những chuyển biến tích cực: Đảng lãnh đạo và chỉ đạo bằng các nghị quyết, chỉ thị và định hướng chủ trương, chính sách lớn về bảo vệ môi trường (BVMT). Đồng thời, Nhà nước đã cụ thể hóa, thể chế hóa các chủ trương, quan điểm, các nghị quyết của Đảng về BVMT thành chính sách, pháp luật, chương trình, đề án và tổ chức thực hiện trong toàn xã hội. Nhận thức về BVMT của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ), các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và nhân dân được nâng lên một bước; Nhà nước ta đã có những chỉ đạo quyết liệt trong công tác bảo vệ môi trường và đã có những chuyển biến tích cực.

Tuy nhiên, công tác BVMT còn nhiều hạn chế, yếu kém; ý thức BVMT của cán bộ, đảng viên nhìn chung còn thấp; việc hoàn thiện cơ chế, chính sách và hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về môi trường còn chậm và chồng chéo; đội ngũ cán bộ quản lý môi trường còn hạn chế về năng lực, trình độ chuyên môn; việc xử lý, giải quyết ô nhiễm môi trường hiệu quả thấp; thiếu kiên quyết trong xử lý vi phạm pháp luật về BVMT.

Bên cạnh đó những yếu kém trong công tác bảo vệ môi trường (CTBVMT) chủ yếu từ những hạn chế, bất cập trong lãnh đạo của Đảng, quản lí của nhà nước đối với CTBVMT. Vì vậy, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đối với CTBVMT giai đoạn hiện nay thực sự là vấn đề rất cấp thiết. Để góp phần giải quyết vấn đề cấp thiết nêu trên, bài viết “Vai trò lãnh đạo của Đảng và nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường”.

2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về môi trường, BVMT và sự lãnh đạo của Đảng đối với các lĩnh vực đời sống xã hội

Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và các phương pháp: logíc kết hợp với phương pháp lịch sử; phân tích kết hợp với tổng hợp; thống kê, so sánh; điều tra xã hội học; coi trọng phương pháp khảo sát, tổng kết thực tiễn.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận.

3.1. Kết quả đạt được trong công tác bảo vệ môi trường cảu Đảng và Nhà nước trong thời gian qua

3.1.1. Về chính sách

Nhận thức được vai trò quan trọng của bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã luôn coi bảo vệ môi trường là vấn đề cốt yếu. Năm 2004, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW, ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với các quan điểm cụ thể, trong đó đã xác định trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân đối với công tác bảo vệ môi trường. Tiếp đó, tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 03/6/2013, về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường và ban hành Kết luận số 56-KL/TW, ngày 23/8/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định quan điểm “Lấy bảo vệ môi trường sống và sức khỏe của nhân dân là mục tiêu hàng đầu…”.

Giai đoạn 2016 – 2020, Đảng và Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều chính sách quan trọng đối với công tác bảo vệ môi trường. Năm 2017 ban hành Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12 tháng 1 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Năm 2018 đã tổng kết, sơ kết Nghị quyết 09-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương khóa X về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Nghị quyết số 24-NQ/TW về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045[1].

Đặc biệt, năm 2020, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường thay thế Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (Luật số 72/2020/QH14 ban hành ngày 17/11/2020 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2022), đã quy định rất cụ thể, rõ trách nhiệm của các chủ thể trong các khâu bảo vệ môi trường. Tiếp theo đó, Chính phủ đã ban hành các nghị định như: số 54/2021/NĐ-CP, ngày 21/5/2021 quy định về đánh giá sơ bộ tác động môi trường; số 55/2021/NĐ-CP, ngày 24/5/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 155/2016/NĐ-CP, ngày 18/11/2016 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; số 08/2022/NĐ-CP, ngày 10/01/2022 quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản quy phạm pháp luật khác.

Để cụ thể hóa chiến lược của Đảng, ngày 13/4/2022, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 450/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Theo đó, đến năm 2030, “Ngăn chặn xu hướng gia tăng ô nhiễm, suy thoái môi trường; giải quyết các vấn đề môi trường cấp bách; từng bước cải thiện, phục hồi chất lượng môi trường; ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học; góp phần nâng cao năng lực chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; bảo đảm an ninh môi trường, xây dựng và phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, các bon thấp, phấn đấu đạt được các mục tiêu phát triển bền vững 2030 của đất nước” và tầm nhìn đến năm 2050 là “Môi trường Việt Nam có chất lượng tốt, bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành và an toàn của nhân dân”.

Để cụ thể hóa chủ trương, đường lối, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của Đảng và Nhà nước về bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái, môi trường, chúng ta đã từng bước hoàn thiện thể chế gắn với xây dựng, tổ chức thực hiện văn bản pháp luật về môi trường. Điều đó thể hiện ở các văn bản pháp luật được ban hành thường xuyên trong thời gian qua, như: Quyết định số 1788/QĐ-TTg, ngày 01/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2020; Quyết định số 491/QĐ-TTg, ngày 07/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050; Nghị định số 53/2020/NĐ-CP, ngày 05/5/2020 của Chính phủ quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.

Một nhiệm vụ rất quan trọng Việt Nam tập trung trong thời gian gần đây là triển khai các chủ trương, giải pháp chuyển đổi xanh, giảm phát thải dựa trên nguyên tắc công bằng, công lý, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Triển khai cam kết của Việt Nam về giảm phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Theo đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2022/NĐ-CP quy định về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozone; Quyết định số 01/2022/QĐ-TTg ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính, phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050.

Cùng với chính sách được hoàn thiện, trong những năm qua, bộ máy quản lý nhà nước của ngành tài nguyên và môi trường đã được kiện toàn, bổ sung, hoàn thiện từ Trung ương đến địa phương và triển khai thực hiện đồng bộ, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả, như: hình thành và vận hành tốt mô hình quản lý đa ngành, đa lĩnh vực trên cơ sở một đầu mối tập trung, thống nhất chịu trách nhiệm trước Chính phủ về quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và biến đổi khí hậu. Nếu Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường ở Trung ương, thì Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường là các tổ chức, cá nhân giúp việc UBND các cấp quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường ở địa phương; riêng đối cấp xã, phường, thị trấn còn có lực lượng công chức địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc công chức địa chính - xây dựng - nông nghiệp và môi trường (đối với xã).

3.1.2. Về kết quả lãnh đạo, quản lý và bảo vệ môi trường

Theo chỉ đạo của Đảng, các bộ ngành quản lí nhận thức được vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường. Công tác quản lý và bảo vệ môi trường ngày càng được cải thiện theo hướng tích cực. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, năm 2022, ngành đã hoàn thành xử lý triệt để 372/435 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; 91% số khu công nghiệp đang hoạt động có công trình xử lý nước thải tập trung đi vào hoạt động đạt tiêu chuẩn môi trường với tổng công suất tối đa đạt khoảng 1,24 triệu m3 nước thải/ngày đêm. Số vụ việc vi phạm pháp luật về môi trường gây ô nhiễm môi trường giảm 65,38% so với năm 2021. Tỷ lệ người dân quan ngại về môi trường giảm mạnh (từ 12,53% năm 2016 xuống 4,03% năm 2021 xuống còn 1,55% năm 2022), các ngành công nghiệp tái chế phát triển đạt mức tăng 11,3% so với năm 2021[2].

Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục quản lý chặt chẽ, sử dụng hiệu quả, phát huy các nguồn lực tài nguyên; đẩy mạnh chuyển đổi xanh, từng bước phục hồi các hệ sinh thái; thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh trong thập kỷ phát triển bền vững; hiện đại hóa công tác dự báo, cảnh báo khí tượng thuỷ văn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, phòng chống thiên tai.Triển khai kế hoạch hành động thực hiện cam kết chính trị với các đối tác, tận dụng các thời cơ, chuyển hóa các thách thức, đưa đất nước phát triển trên con đường xanh, chủ động ứng phó trước các thách thức của biến đổi khí hậu; hiện đại hóa hạ tầng không gian địa lý; ứng dụng công nghệ viễn thám trong giám sát tài nguyên và môi trường. Đồng thời Bộ ngành cũng tập trung nghiên cứu đề xuất các cơ chế, chính sách phù hợp để thu hút đầu tư đẩy nhanh việc cải tạo, phục hồi các lưu vực sông bị ô nhiễm. Xây dựng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật, hướng dẫn mô hình, công nghệ xử lý, tái chế xử lý chất thải rắn thân thiện môi trường, công nghệ đốt rác thu hồi năng lượng, giảm dần việc xử lý chất thải bằng phương pháp chôn lấp. Đến nay, 11 nhà máy xử lý rác thải theo mô hình đốt rác phát điện được triển khai ở Hà Nội, Cần Thơ, TP. Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Thái Nguyên, Phú Thọ… với công suất trên 16 nghìn tấn/ngày, công suất phát điện 270 MW. Đặc biệt, số vụ việc vi phạm pháp luật về môi trường gây ô nhiễm môi trường giảm 65,38% so với năm 2021, tỷ lệ người dân quan ngại về môi trường giảm mạnh (từ 12,53% năm 2016 xuống 4,03% năm 2021, xuống còn 1,55% năm 2022), các ngành công nghiệp tái chế phát triển đạt mức tăng 11,3% so với năm 2021, đưa Việt Nam trở thành quốc gia đứng thứ 10 về tái chế kim loại, nhựa, giấy và thủy tinh, đặt nền móng cho phát triển kinh tế tuần hoàn. Bên cạnh đó, thời gian qua, tỷ lệ che phủ rừng ngày càng tăng cao; dân số ở thành thị sử dụng nước sạch đạt 90%; công tác phòng, chống giảm nhẹ thiên tai được chú trọng, trong đó coi trọng tính dự báo, cảnh báo ngày càng hoạt động chuyên nghiệp, chủ động trong mọi tình huống; công tác bảo tồn đa dạng sinh học cũng ngày càng được quan tâm[3].

3.2. Phương thức bảo vệ môi trường của đảng và nhà nước ta

Đảng lãnh đạo bằng các nghị quyết, chỉ thị và định hướng chủ trương, chính sách lớn về BVMT. Đảng lãnh đạo CTBVMT bằng phát huy vai trò của Nhà nước: Nhà nước cụ thể hóa, thể chế hóa nghị quyết, chỉ thị của Đảng về BVMT. Đảng lãnh đạo Quốc hội cụ thể hóa, thể chế hóa nghị quyết của Đảng về BVMT thành Luật, nghị quyết, quyết định của Quốc hội về vấn đề này. Đảng lãnh đạo Chính phủ chấp hành Luật, nghị quyết của Quốc hội, cụ thể hóa nghị quyết của Quốc hội thành nghị định, chương trình, kế hoạch, đề án BVMT và tổ chức thực hiện. Đảng lãnh đạo cơ quan tư pháp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan đó, trong CTBVMT. Còn nhà nước có vai trò trong việc đề ra hệ thống pháp luật kết hợp phát triển kinh tế kết hợp với bảo vệ môi trường

Đảng và nhà nước lãnh đạo CTBVMT bằng tuyên truyền, thuyết phục, vận động thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng về BVMT: Đảng tiến hành công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động đội ngũ cán bộ, đảng viên thông suốt tư tưởng, tích cực thực hiện các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về BVMT. Đồng thời, Đảng lãnh đạo công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục nhân dân hăng hái thực hiện các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về BVMT.

Đảng và nhà nước lãnh đạo CTBVMT bằng công tác tổ chức, cán bộ hoạt động trong lĩnh vực môi trường và trực tiếp làm CTBVMT. Đảng lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng đội ngũ cán bộ trong các tổ chức, cơ quan hoạt động trong lĩnh vực môi trường theo nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ của cả HTCT. Bên cạnh đó nhà nước ta đề ra hệ thống chính sách vừa phát triển kinh tế nhưng đồng thời gắn với bảo vệ môi trường, ví dụ như chính sách về phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp bảo vệ môi trường; chính sách về khoa học và công nghệ; chính sách về xây dựng cơ cấu kinh tế và phân bổ nguồn TNTN

Đảng và nhà nước lãnh đạo CTBVMT bằng việc phát huy vai trò của MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng về BVMT.

Đảng và nhà nước lãnh đạo phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng nêu trên trong tham gia xây dựng và giám sát, phản biện xã hội đối với nghị quyết, chủ trương, biện pháp BVMT của Đảng, Nhà nước và cán bộ, đảng viên trong thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật, các chương trình, đề án của Nhà nước về BVMT. Đảng lãnh đạo phát huy vai trò của MTTQ và các tổ chức

Bên cạnh đó, nhà nước có vai trò trong việc huy động nguồn vốn; thực hiện triển khai, nghiên cứu KH và CN; hợp tác quốc tế trong gắn TTKT với bảo vệ MT, tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát thực hiện việc hiện kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường; đồng thời tạo ra sự đồng thuận xã hội, nâng cao trách nhiệm xã hội của cá nhân để thực hiện kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường

3.3. Một số vấn đề trong công tác bảo vệ môi trường của đảng và nhà nước.

- Chính sách

Đảng lãnh đạo CTBVMT bằng nghị quyết, chỉ thị của Đảng và định hướng chủ trương, chính sách lớn về BVMT. Nhà nước quản lí thông qua các văn bản pháp luật: Đảng ban hành nghị quyết, chỉ thị về BVMT còn chậm, chưa kịp thời định hướng trong CTBVMT. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), vấn đề môi trường và BVMT mới được Đảng ta quan tâm đưa vào nội dung Văn kiện của Đảng nhưng còn mờ nhạt. Sau đổi mới, mở cửa, hội nhập, cùng với sự phát triển kinh tế, tình trạng ô nhiễm môi trường đã diễn biến nghiêm trọng. Tuy nhiên, CTBVMT ở nước ta chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới đến năm 1998 Đảng mới ban hành Chỉ thị 36-CT/TW ngày 25/6/1998 “Về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa” được coi là chỉ thị đầu tiên mà Đảng ban hành để lãnh đạo CTBVMT. Đến đây, Đảng đã xác định rõ mục tiêu, quan điểm cơ bản và giải pháp để BVMT. Tuy nhiên, việc ban hành chỉ thị này sau 12 năm trong điều kiện môi trường bị suy thoái nghiêm trọng cho thấy Đảng ta chưa thật kịp thời và quyết liệt trong lãnh đạo CTBVMT.

Đảng chưa kịp thời trong việc xác định nhiệm vụ cụ thể của các tổ chức chính trị - xã hội và nhiệm vụ cụ thể từng vùng trong CTBVMT. Trong Chỉ thị 36/1998/CT-TW ngày 25/6/1998, Đảng coi CTBVMT chỉ là nhiệm vụ của các cấp ủy đảng và chính quyền từ Trung ương đến cơ sở. Nhưng trong Chỉ thị này, sự tham gia của MTTQ và các đoàn thể xã hội trong CTBVMT chưa được đề cập. Trong khi đó, vai trò của MTTQ, các tổ chức đoàn thể xã hội có vai trò rất quan trọng đối với CTBVMT; Trong Chỉ thị này, mục tiêu, nhiệm vụ của CTBVMT còn chung chung, chưa xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể, đặc biệt là nhiệm vụ đối với từng vùng như vùng đô thị, vùng ven đô thị, vùng nông thôn. Đến ngày 15/01/2004, Đảng tiếp tục ban hành Nghị quyết số 41-NQ/ TW về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Trong Nghị Quyết này, Đảng mới xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của CTBVMT và khẳng định CTBVMT cần có sự tham gia tích cực của MTTQ và các đoàn thể nhân dân. Nhưng Đảng chưa xác định rõ các chỉ tiêu cụ thể về các loại môi trường (như chỉ tiêu xử lý nước thải, khí thải, chất thải, tỷ lệ che phủ rừng, tỷ lệ người dân dùng nước sạch). Đến Nghị quyết 24-NQ/TW ngày 03/6/2014 “Về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT”, Đảng mới xác định các chỉ tiêu cần phấn đấu trong CTBVMT. Vì vậy, một thời gian khá dài, công tác này chưa có các chỉ số để phấn đấu thực hiện, từ đó không có cơ sở cụ thể để đánh giá kết quả việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị về CTBVMT, dẫn đến việc đánh giá CTBVMT còn chung chung.

Đảng chưa thật quyết liệt trong việc định hướng Nhà nước sửa đổi Luật Môi trường trong khi có nhiều nội dung của Luật không phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Trong giai đoạn từ 2004 đến 2009, Chính phủ ít ban hành các văn bản pháp luật về môi trường, các chế tài xử phạt hành vi vi phạm pháp luật về môi trường, quy định về mức phí BVMT ban hành còn chậm, thiếu kịp thời; Chẳng hạn như Luật BVMT được ban hành từ năm 1993, nhưng đến năm 1996, Chính phủ mới ban hành Nghị định số 26-NĐ/CP về xử phạt vi phạm hành chính trong BVMT và trên thực tế nghị định này, không áp dụng được. Mãi đến năm 2003, Nghị định số 67/2003/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong BVMT thay thế cho Nghị định số 26-NĐ/CP mới áp dụng được. Như vậy, sau 10 năm thực hiện Luật BVMT, công cụ quản lý nhà nước về BVMT ở nước ta mới được áp dụng theo nguyên tắc kinh tế thị trường là “Người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Đến nay, vẫn còn thiếu các văn bản quy phạm pháp luật quy định một cách hệ thống và chi tiết đối với vấn đề quản lý khí thải, các văn bản hiện nay mới chỉ tập trung vào khí thải công nghiệp, giao thông, lò đốt chất thải; thiếu văn bản, quy định hướng dẫn về kiểm kê nguồn thải đối với nước thải.

Đảng trong lãnh đạo các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, nhất là cấp ủy trực thuộc Trung ương cụ thể hóa nghị quyết, chỉ thị của Đảng về BVMT và tổ chức thực hiện. trong khi đó, nhận thức của các cấp ủy về CTBVMT chưa đầy đủ; công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị về CTBVMT còn thiếu thường xuyên, quyết liệt, một số nghị quyết, chỉ thị về CTBVMT chưa được tổ chức học tập, quán triệt nghiêm túc. Kết luận 02-KL/TW ngày 25/4/2016 về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 41 của Bộ Chính trị xác định nguyên nhân chủ yếu của hạn chế, yếu kém trong CTBVMT là do “Nhận thức và trách nhiệm của một số cấp ủy đảng, chính quyền, người đứng đầu địa phương, đơn vị chưa đầy đủ” [6, tr.1].

Đảng lãnh đạo CTBVMT bằng phát huy vai trò của Nhà nước. Hệ thống pháp luật của Nhà nước về BVMT chậm đổi mới, Luật BVMT năm 2005 có nhiều hạn chế, bất cập so với thực tiễn, song việc lãnh đạo sửa đổi, bổ sung còn chậm (đến 2014 Quốc hội mới ban hành luật BVMT thay thế cho Luật BVMT năm 2005, năm 2020 ban hành luật thay cho năm 2014 nhưng đến năm 2022 mới có hiệu lực). Hệ thống các chiến lược về BVMT chưa đồng bộ, toàn diện

Tổ chức bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ hoạt động trong công tác BVMT: Mặc dù hệ thống tổ chức lãnh đạo và quản lý nhà nước về môi trường tiếp tục được kiện toàn, song thực tiễn cho thấy, vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Ở cấp Trung ương có 8 Bộ, ngành thành lập đơn vị có chức năng quản lý nhà nước về môi trường theo ngành, lĩnh vực đã phát huy hiệu quả, song khi triển khai thực hiện thực tế cũng gặp nhiều khó khăn do sự phối hợp thiếu đồng bộ; sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm không rõ ràng. Đối với vấn đề nhân lực, một số lĩnh vực còn thiếu đội ngũ công chức, viên chức có trình độ cao, chuyên môn sâu. Cán bộ kiêm nhiệm công tác môi trường cấp xã không được đào tạo về chuyên môn, trong khi đó, đây là nơi trực tiếp đối mặt với thực trạng môi trường, trực tiếp tiếp xúc với nhân dân. Bên cạnh đó, việc lãnh đạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế, số lượng cán bộ được đào tạo chuyên môn sâu còn ít, nhất là các chuyên gia giỏi có khả năng nghiên cứu, thẩm định, xây dựng đề án hướng dẫn, triển khai thực hiện CTBVMT.

Các cấp ủy, địa phương, đơn vị chưa giành nhiều thời gian đầu tư cho CTBVMT, việc ban hành và triển khai thực hiện nghị quyết về BVMT còn chậm; việc chỉ đạo giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường chưa thật quyết liệt dẫn đến tình trạng có địa phương ô nhiễm môi trường đã tồn tại nhiều năm nhưng chưa có giải pháp căn cơ để khắc phục. Thực tế, các hoạt động tuyên truyền, các phong trào BVMT thường được tiến hành tại địa phương, còn trong các cơ quan đơn vị, các cấp ủy tổ chức đảng gần như buông lỏng. Nhiều cán bộ, đảng viên chưa chủ động trong công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật về BVMT đến người dân; vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên trong thực hiện Luật BVMT còn mờ nhạt.

Đảng lãnh đạo CTBVMT bằng phát huy vai trò MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, tổ chức xã hội thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng về BVMT. Hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng đối với hệ thống MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội về BVMT chưa thường xuyên nên nhiều phong trào, cuộc vận động toàn dân BVMT thường rất rầm rộ và hiệu quả thời gian đầu, sau đó có xu hướng giảm dần. Sự lãnh đạo phối hợp và thống nhất hành động giữa các cơ quan làm CTBVMT với cơ quan MTTQ các cấp nhiều lúc chưa tốt. Quan điểm BVMT là trách nhiệm của toàn xã hội vẫn chưa được thực thi một cách đầy đủ. Sự tham gia của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội, tổ chức xã hội chưa thật rõ nét; chưa tạo được sự đồng thuận giữa các quy định pháp luật, chính sách của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội. Trong hệ thống các ngành luật liên quan tới BVMT chỉ có Luật BVMT, Luật Tài nguyên nước là có quy định về vai trò giám sát, về trách nhiệm của MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong BVMT. Ngay cả trong Chiến lược quốc gia về BVMT đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, cũng chỉ mới quy định về nguyên tắc, vai trò của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội trong hoạt động giám sát, chưa có những quy định cụ thể về trình tự, quy trình, cơ chế, chính sách tạo điều kiện để MTTQ các cấp tham gia giám sát về CTBVMT.  Đảng chưa thường xuyên kiểm tra, giám sát cấp ủy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo công tác BVMT; kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên hoạt động trong chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội, tổ chức xã hội về tổ chức học tập, quán triệt, triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng về BVMT; về xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để thực hiện phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Điều này, dẫn đến tình trạng các địa phương chậm trễ và kém hiệu quả trong việc tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng về BVMT và Luật BVMT.

Đảng và nhà nước lãnh đạo CTBVMT bằng công tác kiểm tra, giám sát Công tác kiểm tra, giám sát đối với tổ chức trong việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của nhà nước về BVMT hiệu quả chưa cao. Tình trạng cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những đảng viên công tác trong lĩnh vực môi trường có những vi phạm về BVMT chậm được phát hiện, xử lý. Có trường hợp khi sự cố môi trường đã xảy ra mới tiến hành kiểm tra và phát hiện vi phạm. Công tác thanh tra, kiểm tra về BVMT tại địa phương còn một số hạn chế, yếu kém, như: lực lượng cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra còn mỏng; năng lực còn hạn chế, chưa được trang bị đầy đủ các trang thiết bị, phương thiện cần thiết và chưa được bố trí kinh phí tương ứng để hoạt động; các vi phạm pháp luật về BVMT chưa được địa phương xử lý một cách kịp thời, thỏa đáng. Thêm vào đó, các vi phạm pháp luật về BVMT ngày càng phức tạp, khó phát hiện, trong khi hoạt động thanh tra còn bị ràng buộc bởi các thủ tục hành chính nên thanh tra việc tuân thủ pháp luật và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm quy định về BVMT của các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả chưa cao

4. Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lí của nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường.

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp trong đảng, nhà nước và nhân dân đối với công tác bảo vệ môi trường: Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu chi phối và quyết định việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của nhà nước đối với công tác BVMT đạt kết quả tốt. Bởi vì, chỉ khi có nhận thức đúng đắn, sâu sắc về vấn đề này, thì các cấp trong đảng, nhà nước và nhân dân mới có thể có hành động đúng, đem lại hiệu quả trong BVMT

Xây dựng Nhà nước và chính quyền các cấp vững mạnh, bảo đảm thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về môi trường: Quản lý nhà nước về BVMT là vấn đề đặc biệt quan trọng bảo đảm cho các nghị quyết của Đảng về BVMT được thực hiện thắng lợi. Điều này, chỉ có thể thực hiện được khi Nhà nước và chính quyền các cấp được xây dựng vững mạnh. Đây là một trong những giải pháp cơ bản, then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao vai trò quản lý nhà nước về BVMT

Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, quản lí nhà nước  đối với các tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội trong gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường: Tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội tích cực tham gia vào công tác bảo vệ môi trường

Tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra và xử lý các tổ chức đảng, cán bộ nhà nước, đảng viên, cá nhân và tập thể vi phạm về bảo vệ môi trường: xử lý nghiêm những vụ việc tiêu cực, tham nhũng, lãng phí trong thực hiện chủ trương của Đảng về BVMT. Thông qua công tác này, Đảng nắm được hoạt động của các tổ chức đảng, đảng viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước, MTTQ, và các đoàn thể chính trị - xã hội, trong các đơn vị kinh tế, doanh nghiệp vi phạm về BVMT

Tăng cường hợp tác quốc tế, khu vực về bảo vệ môi trường theo đường lối đối ngoại của Đảng: Hợp tác quốc tế về môi trường còn là một trong những nội dung quản lý nhà nước về BVMT được đề cập trong Luật BVMT, và là giải pháp quan trọng trong các chiến lược, kế hoạch hành động quốc gia về môi trường

5. Kết luận

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo CTBVMT là toàn bộ hoạt động của Đảng, như: xây dựng, ban hành các nghị quyết, chỉ thị về BVMT; quán triệt, tổ chức thực hiện; kiểm tra, giám sát việc thực hiện của các tổ chức đảng và đảng viên, các tổ chức trong HTCT, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và nhân dân theo quy định làm cho môi trường trong lành, cân bằng, bền vững. Bên cạnh đó, Nhà nước đã có rất nhiều nỗ lực, cố gắng trong việc đề ra hệ thống chính sách, chiến lược, pháp luật; tiến hành tổ chức thực hiện và tạo ra sự đồng thuận của toàn xã hội vào kết hợp giữa phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa với bảo vệ môi trường. Nhưng, cũng phải thấy rằng, bên cạnh những thành tựu đạt được, vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước ta trong việc bảo vệ môi trường cũng còn nhiều hạn chế, như: các Chỉ thị chậm so với vấn đề ô nhiễm môi trường đặt ra, nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước còn những lỗ hổng chưa được khắc phục, nội dung một số chính sách, chiến lược còn chồng chéo lên nhau, công tác tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra, giám sát thực hiện việc kết hợp giữa phát triển đất nước với bảo vệ môi trường còn nhiều sai sót, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra…Để khắc phục tình trạng này, cần phải kết hợp nhiều giải pháp.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị (1998), Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25/6/1998 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, www.cpv.org.vn.

2. Bộ Chính trị (2004), Nghị quyết 41/NQ-TW về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, www.cpv.org.vn.

3. Bộ Chính trị (2009), Chỉ thị số 29/CT-TW về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nghị quyết 41/NQ-TW về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, www.tuyengiao.vn.

4. Chính phủ Việt Nam (2005), Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, www.chinhphu.vn.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Chỉ thị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Hà Nội.

6. Lê Thị Thanh Hà (2011), “Vai trò của nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ môi trường”, Tạp chí Triết học.

7. Lê Thị Thanh Hà (2013), Nhà nước Việt Nam đối với vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Nxb Chính trị - Hành chính.

8. Phan Thị Hồng Duyên (2008), “Giáo dục đạo đức sinh thái vì sự phát triển bền vững cho con người và giới tự nhiên”, Tạp chí Triết học.

9. Nguyễn Thị Khương (2014), Vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

Chú thích:

[1] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2021). Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2016 – 2020.

[2] https://tapchimoitruong.vn/wpm/su-kien-hoat-dong-27/nganh-tai-nguyen-va-moi-truong-no-luc-chu-dong-hoan-thanh-moi-nhiem-vu-duoc-giao-28342

[3]Nguyễn Tuấn Anh và cs (2023). Quản lý, bảo vệ môi trường tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 14.

Nguyễn Thị Bích Nguyệt
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững
Ý kiến bạn đọc
Họ tên no image
Nội dung no image
Mã kiểm tra no image
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1