Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lợi ích, nguyên tắc, bản chất, cách tổ chức và quản lý của nhà nước đối với sự phát triển hợp tác xã
Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã (HTX) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế tập thể mà còn góp phần xây dựng mô hình HTX hiện đại, hiệu quả và mang đậm bản chất nhân văn theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.  

Trong tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng HTX không chỉ là một giải pháp kinh tế nhằm cải thiện đời sống nhân dân mà còn là phương thức tổ chức xã hội mang ý nghĩa chính trị và nhân văn sâu sắc. Người nhìn nhận HTX như một hình thức liên kết tự nguyện của nhân dân lao động nhằm phát huy sức mạnh cộng đồng, khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ phân tán, từng bước đưa nông dân đi lên sản xuất lớn và tiến tới chủ nghĩa xã hội. Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã quan tâm đến mô hình HTX trên thế giới. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh năm 1927, Người dành riêng một mục để bàn về HTX, phân tích lịch sử ra đời, mục đích, cách thức tổ chức và vai trò xã hội của mô hình này. Điều đó cho thấy tư duy vượt trước đại của Hồ Chí Minh khi nhìn nhận HTX không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là công cụ tổ chức quần chúng và phát triển xã hội.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt là thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Hồ Chí Minh cùng Đảng Lao động Việt Nam đã coi hợp tác hóa nông nghiệp là một nội dung quan trọng của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, khác với nhiều mô hình tập thể hóa mang tính “cứng nhắc” trên thế giới, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi, chống nóng vội, chống hành chính hóa và chống giáo điều trong tổ chức hợp tác xã. Trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đang tiếp tục hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó xây dựng HTX tập trung phát triển kinh tế tập thể năng động, hiệu quả và bền vững, trọng tâm là chuyển đổi từ kiểu cũ sang mô hình tự chủ, gắn kết chuỗi giá trị thị trường, ứng dụng công nghệ cao và chuyển đổi xanh[1], việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về HTX không chỉ có ý nghĩa lịch sử mà còn mang giá trị thực tiễn sâu sắc. Những quan điểm của Người về lợi ích của xã viên, vai trò của Nhà nước, tính tự chủ của HTX và yêu cầu phát triển phù hợp với quy luật khách quan vẫn là cơ sở lý luận quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế tập thể hiện nay. Bài viết tập trung làm rõ các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về HTX trên năm phương diện: lợi ích, nguyên tắc, bản chất, cách thức tổ chức và quản lý nhà nước; đồng thời phân tích giá trị lịch sử và ý nghĩa thực tiễn của những quan điểm đó trong giai đoạn hiện nay.

1. Quan điểm Hồ Chí Minh về lợi ích, nguyên tắc, bản chất, cách thức tổ chức và quản lý của nhà nước đối với sự phát triển hợp tác xã

1.1. Quan điểm về lợi ích của hợp tác xã

Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, lợi ích giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với mọi phong trào cách mạng nói chung và đối với sự phát triển HTX nói riêng. Người cho rằng quần chúng chỉ tích cực tham gia khi thấy rõ quyền lợi thiết thực của mình. Vì vậy, HTX muốn tồn tại và phát triển phải bảo đảm hài hòa lợi ích của xã viên, tập thể và Nhà nước. Quan điểm này phản ánh rõ tư duy thực tiễn của Hồ Chí Minh. Người không tiếp cận HTX bằng các khẩu hiệu trừu tượng mà luôn xuất phát từ đời sống cụ thể của nông dân. Trong điều kiện nền sản xuất nhỏ ở Việt Nam, người nông dân trước hết quan tâm tới cái ăn, cái mặc, tới hiệu quả lao động và sự ổn định cuộc sống. Vì vậy, nếu HTX không làm cho “khó nhọc ít mà lợi ích nhiều” thì không thể có sức hấp dẫn đối với nhân dân. Đây cũng là điểm thể hiện sự khác biệt giữa Hồ Chí Minh với khuynh hướng tuyệt đối hóa quan hệ sở hữu tập thể từng xuất hiện ở một số mô hình hợp tác hóa trước đây. Hồ Chí Minh không phủ nhận lợi ích cá nhân mà ngược lại luôn xem việc kết hợp lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể là điều kiện để phát triển HTX bền vững. Điều đó thể hiện mối quan hệ giữa lợi ích và động lực phát triển hợp tác xã.

Bên cạnh đó, Người cho rằng lợi ích của nhân dân là cơ sở tồn tại, nền tảng và phát triển của hợp tác xã. Người không tiếp cận HTX từ góc độ hình thức hay khẩu hiệu chính trị đơn thuần mà luôn đặt câu hỏi: HTX đem lại lợi ích gì cho người dân? Ngay trong những bài viết đầu tiên về hợp tác xã, Hồ Chí Minh đã giải thích rất giản dị: “Hợp tác xã là hợp vốn, hợp sức lại với nhau. Vốn nhiều, sức mạnh, thì khó nhọc ít mà lợi ích nhiều”[2]. Cách diễn đạt này phản ánh rõ quan điểm của Người rằng HTX trước hết phải đem lại lợi ích vật chất cụ thể cho xã viên. Theo Hồ Chí Minh, lợi ích của HTX thể hiện trên nhiều phương diện. Trước hết là lợi ích kinh tế. Thông qua hợp tác xã, người nông dân có thể liên kết nguồn lực, giảm chi phí sản xuất, tăng khả năng tiếp cận vốn, kỹ thuật và thị trường. Điều đó giúp nâng cao năng suất lao động và cải thiện đời sống. Bên cạnh lợi ích kinh tế, Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh lợi ích xã hội và tinh thần của hợp tác xã. Người xem HTX là môi trường xây dựng tinh thần đoàn kết, tương trợ và ý thức cộng đồng. Trong điều kiện sản xuất nhỏ phân tán, việc liên kết thành HTX giúp người dân khắc phục tính manh mún, tạo dựng tinh thần hợp tác và trách nhiệm tập thể. Điều đáng chú ý là Hồ Chí Minh không phủ nhận lợi ích cá nhân. Trái lại, Người cho rằng phải bảo đảm hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích Nhà nước. Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa tư duy Hồ Chí Minh với khuynh hướng bình quân chủ nghĩa từng tồn tại trong một số mô hình tập thể hóa trước đây.

Về lợi ích của hợp tác xã, Hồ Chí Minh cho rằng nếu HTX không đem lại lợi ích thực tế cho xã viên thì không thể tồn tại bền vững. Từ đó, Người nhiều lần nhắc nhở, phê phán tư tưởng nóng vội, bình quân chủ nghĩa, hình thức và bệnh thành tích trong phát triển hợp tác xã. Trong thực tiễn lịch sử xây dựng HTX, một số nơi từng rơi vào tình trạng tổ chức hoạt động bằng mệnh lệnh hành chính, chạy theo số lượng, áp đặt tập thể hóa mà không quan tâm đầy đủ tới lợi ích của xã viên. Nhiều thời điểm số HTX tăng, diện tích tăng, đầu tư tăng nhưng ngược lại năng suất và đời sống xã viên không tăng. Điều này dẫn đến tâm lý đối phó - “rong công, phóng điểm”[3], làm giảm động lực, năng suất lao động và ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất. Người nêu rõ: “Phân phối phải theo mức lao động. Lao động nhiều thì được phân phối nhiều, lao động ít thì được phân phối ít... Không nên có tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc dễ, cũng công điểm như nhau. Đó là chủ nghĩa bình quân. Phải tránh chủ nghĩa bình quân”[4]. Những bài học đó càng cho thấy giá trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh khi Người luôn đặt lợi ích thiết thực của xã viên làm tiêu chí hàng đầu để đánh giá hiệu quả của hợp tác xã.

1.2. Quan điểm về nguyên tắc hoạt động của hợp tác xã

Tự nguyện là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về HTX. Người luôn cho rằng HTX chỉ có thể phát triển bền vững khi xuất phát từ nhu cầu thực tế và sự tự giác của nhân dân. Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh phải “giữ vững nguyên tắc tự nguyện”[5], đồng thời phê phán tư tưởng nóng vội và ép buộc trong quá trình tổ chức hợp tác xã. Theo Người, nếu cưỡng ép nông dân tham gia HTX thì sẽ làm mất lòng tin của nhân dân và đi ngược quy luật phát triển. Quan điểm này thể hiện sự khác biệt giữa tư duy Hồ Chí Minh với mô hình tập thể hóa cưỡng bức ở một số nước xã hội chủ nghĩa trước đây. Từ lịch sử hợp tác hóa nông nghiệp ở Liên Xô, có thể thấy “tiến hành ồ ạt đưa nông dân vào kinh tế tập thể” đã “phá vỡ nguyên tắc tự nguyện trong lý luận của V.I.Lênin”. Hồ Chí Minh nhận thức rõ những nguy cơ đó nên luôn chủ trương phát triển HTX từng bước, thận trọng và phù hợp thực tế. Theo Người, HTX là “nhóm lại thành giàu, chia nhau thành khó”, “hợp tác xã là lợi chung”, “ai cũng giúp mà ai cũng bị giúp”[6]. Điều đó cho thấy, từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã xác định HTX là một giải pháp kinh tế - xã hội gắn với lợi ích thiết thực của người lao động. Từ góc nhìn chính trị - sử học, nguyên tắc tự nguyện phản ánh tư tưởng dân chủ và quan điểm lấy dân làm gốc của Hồ Chí Minh. Người hiểu rằng nông dân không chỉ là đối tượng vận động mà còn là chủ thể của quá trình phát triển hợp tác xã. Khi nói chuyện với nhân dân, bộ đội, cán bộ tại Yên Châu (Sơn La) năm 1959, Người căn dặn: “Tổ chức tổ đổi công, hợp tác xã là phải tự nguyện, nghĩa là tuyên truyền, giải thích ai muốn vào thì vào, không phải nắm cổ kéo người ta vào”[7]. Điều đó suy rộng ra, HTX phải được xây dựng từ sự đồng thuận bên trong, từ nhận thức, trách nhiệm và sự lựa chọn của chính người tham gia. Tự nguyện vì thế là nguyên tắc chi phối toàn bộ quá trình tổ chức và vận hành hợp tác xã: tự nguyện liên kết, tự nguyện góp vốn, tự nguyện thực hiện nghĩa vụ, tự nguyện tham gia giám sát và quyết định những vấn đề hệ trọng của tổ chức.

Anh-tin-bai
Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và nói chuyện với đồng bào các dân tộc châu Yên Châu, ngày 8/5/1959.Nguồn: https://baosonla.vn/bac-ho-voi-nhan-dan-cac-dan-toc-tay-bac/nhung-ngay-bac-ho-ve-tham-tay-bac-tai-son-la-nam-1959-JPrqfZYIR.html, truy cập 6-8-2026.

Cùng với nguyên tắc tự nguyện, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng nguyên tắc dân chủ trong tổ chức và hoạt động của hợp tác xã. Theo Người, xã viên phải được tham gia bàn bạc, kiểm tra và quyết định những vấn đề liên quan đến hoạt động của hợp tác xã. Hồ Chí Minh xem dân chủ không chỉ là yêu cầu chính trị mà còn là điều kiện bảo đảm hiệu quả hoạt động của hợp tác xã. Khi người dân thực sự được làm chủ, họ sẽ tích cực tham gia sản xuất, gắn bó với tập thể và phát huy tinh thần trách nhiệm. Người cũng nhiều lần phê phán bệnh quan liêu, mệnh lệnh và áp đặt trong quản lý hợp tác xã. Theo Hồ Chí Minh, nếu cán bộ xa dân, thiếu dân chủ thì HTX dễ rơi vào hình thức và mất động lực phát triển. Theo Hồ Chí Minh, HTX chỉ có thể phát triển bền vững khi người dân thực sự hiểu, tin tưởng và tự giác tham gia, tuyệt đối tránh tình trạng ép buộc hoặc làm theo phong trào. Người căn dặn: Muốn xây dựng tổ đổi công, HTX được tốt phải đoàn kết, phải làm cho mọi người tự nguyện tham gia, phải bàn bạc dân chủ và phải tính toán cho công bằng, hợp lý[8]. Thư gửi Ban chấp hành Đảng bộ Đảng Lao động Việt Nam tỉnh Nghệ An (ngày 21-7-1969) đều thấy một sự gắn kết đặc biệt giữa HTX với thực hành dân chủ. Người viết: “Tích cực thực hiện dân chủ với nhân dân hơn nữa. Trong hợp tác xã nông nghiệp, mọi việc sản xuất, phân phối, quản lý kinh tế, bầu cử các cơ quan phụ trách đều phải để cho nhân dân bàn bạc kỹ và tự mình quyết định một cách thật sự dân chủ. Cán bộ, đảng viên, đoàn viên cần thường xuyên tự phê bình trước nhân dân, khuyến khích nhân dân phê bình. Khiêm tốn lắng nghe ý kiến của nhân dân để phát huy những việc tốt, sửa chữa những việc sai, làm công tác tốt hơn”[9].

Bên cạnh quan điểm về lợi ích của HTX như đã trình bày trên thì một trong những nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động Hồ Chí Minh đề cập đến là cùng có lợi. Người cho rằng HTX phải là tổ chức thiết thực, bình đẳng và đem lại lợi ích cho tất cả xã viên. Hồ Chí Minh phân biệt rõ HTX với hội từ thiện hay công ty cổ phần. HTX không chỉ nhằm mục tiêu lợi nhuận mà còn hướng tới sự tương trợ và phát triển cộng đồng. Ngay từ năm 1946, trong Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam (ngày 11-4-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh thì cần có hợp tác xã… Anh em ta ai chẳng mong được đầy đủ, giàu có, ai chẳng mong cho nứớc thịnh, dân cường. Vậy chúng ta hãy mau mau chung vốn góp sức, lập nên hợp tác xã nông nghiệp ở khắp nơi; từ làng mạc cho đến tỉnh thành, đâu đâu cũng phải có hợp tác xã”[10]. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa phủ nhận lợi ích vật chất. Trái lại, Người cho rằng nếu không bảo đảm lợi ích cho xã viên thì HTX sẽ không có sức sống. Nguyên tắc cùng có lợi còn thể hiện ở việc kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể. Đây là quan điểm rất hiện đại của Hồ Chí Minh, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Anh-tin-bai
Anh-tin-baiChiếc máy cày của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng thưởng cho HTX Đại Phong (huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình).Nguồn: https://btgdvtukhanhhoa.vn/tu-tuong-dao-duc-phong-cach-ho-chi-minh/quan-diem-cua-chu-tich-ho-chi-minh-ve-hop-tac-xa-nong-nghiep-va-su-van-dung-phat, truy cập 5-8-2026.

1.3. Quan điểm về bản chất của hợp tác xã

Trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, HTX không chỉ là tổ chức sản xuất mà còn là hình thức tổ chức xã hội mang ý nghĩa nhân văn và chính trị sâu sắc. Người nhìn nhận HTX như môi trường xây dựng cộng đồng đoàn kết, tương trợ và giáo dục tinh thần tập thể cho nhân dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục đích của HTX không chỉ là tăng sản lượng hay lợi nhuận mà còn nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân, xây dựng quan hệ xã hội mới trên cơ sở đoàn kết và hợp tác. Điều này thể hiện rõ trong cách Người giải thích về bản chất của hợp tác xã: “Cốt làm cho những người vô sản giai cấp hoá ra anh em. Anh em thì làm giùm nhau, nhờ lẫn nhau. Bỏ hết thói tranh cạnh. Làm sao cho ai trồng cây thì được ăn trái, ai muốn ăn trái thì giùm vào trồng cây”, “hợp tác xã trước là có ích lợi cho dân, sau là bớt sức bóp nặn của tụi tư bản và đế quốc chủ nghĩa”[11]. Đây không chỉ là tư tưởng kinh tế mà còn là triết lý xã hội mang tính nhân văn sâu sắc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi HTX là công cụ giúp người lao động yếu thế liên kết với nhau để cùng phát triển. Theo Người, HTX trước hết là tổ chức của những người lao động nghèo khó, cùng góp sức để vượt qua khó khăn và cải thiện cuộc sống. Nó thể hiện tính nhân văn cao cả của Người và cũng chính là mục tiêu phấn đấu suốt cả cuộc đời mình. Đúng như Người đã khẳng định: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[12]. Người nhiều lần nhấn mạnh tinh thần tương trợ trong hợp tác xã. Tinh thần đó không phải sự ban phát từ thiện mà là sự giúp đỡ bình đẳng giữa những người lao động. Đây là điểm khác biệt căn bản giữa HTX với các tổ chức kinh doanh thuần túy.  Trong cuốn Đường kách mệnh, Người khẳng định: “Hợp tác xã khác hội buôn, vì hội buôn lợi riêng, hợp tác xã lợi chung. hợp tác xã tuy là để giúp đỡ nhau, nhưng không giống các hội từ thiện. Vì các hội ấy có tiêu đi mà không làm ra, và giúp đỡ bất kỳ ai nhưng có ý bố thí, hợp tác xã có tiêu đi, có làm ra, chỉ giúp cho người trong hội nhưng giúp một cách bình đẳng, một cách “cách mệnh” ai cũng giúp mà ai cũng bị giúp[13]. Quan điểm của Hồ Chí Minh cho thấy bản chất xã hội chủ nghĩa của HTX không nằm ở sự xóa bỏ hoàn toàn lợi ích cá nhân mà ở việc xây dựng quan hệ hợp tác bình đẳng, đoàn kết và cùng phát triển.

Trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, HTX là bước đi phù hợp để chuyển nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, tức là hình thức quá độ phù hợp lên chủ nghĩa xã hội. Người cho rằng ở một nước nông nghiệp lạc hậu như Việt Nam, không thể nóng vội xóa bỏ ngay sản xuất cá thể mà phải tổ chức cho nông dân từng bước đi vào con đường hợp tác. Quan điểm này phản ánh sự vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam. Hồ Chí Minh không đồng nhất HTX với tập thể hóa cưỡng bức mà xem đây là quá trình phát triển có tính quy luật, Người nhấn mạnh: “Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội)”[14].

1.4. Quan điểm về cách thức tổ chức hợp tác xã

Một trong những điểm đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về HTX là yêu cầu tổ chức phải phù hợp thực tiễn, chống rập khuôn máy móc. Người nhiều lần nhấn mạnh rằng không thể áp dụng một mô hình cứng nhắc cho mọi địa phương. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Không phải làng nào cũng phải lập mỗi làng mỗi hợp tác xã. Cũng không phải mỗi làng phải lập cả mấy hợp tác xã”[15]. Điều này phản ánh tư duy linh hoạt và thực tiễn của Người. Theo Hồ Chí Minh, việc tổ chức HTX phải căn cứ vào điều kiện kinh tế, trình độ dân trí, tập quán sản xuất và nhu cầu thực tế của nhân dân. Tư duy chống giáo điều của Hồ Chí Minh đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh nhiều nước xã hội chủ nghĩa trước đây từng áp dụng mô hình tập thể hóa cứng nhắc và dẫn tới nhiều hệ quả tiêu cực.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương phát triển HTX từng bước, từ hình thức đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao. Người coi tổ đổi công là bước khởi đầu quan trọng trước khi tiến lên hợp tác xã.cách thức để phát triển HTX nông nghiệp: “Gốc của thắng lợi là tổ chức, trước hết là tổ đổi công cho tốt rồi tiến dần lên hợp tác xã nông nghiệp”[16]. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, quá trình hợp tác hóa phải dựa trên sự trưởng thành dần về nhận thức và hiệu quả thực tiễn. Người phản đối việc phát triển ồ ạt, chạy theo số lượng mà không quan tâm tới chất lượng hoạt động. Quan điểm “làm đến đâu chắc đến đấy” của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện tư duy phát triển bền vững và tôn trọng quy luật khách quan. Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý: “Trước khi mở rộng quy mô hợp tác xã phải chuẩn bị thật tốt về tư tưởng và vật chất, tuyệt đối không nên nóng vội”[17]. Người nhấn mạnh bước đi tuần tự, tuyệt đối không được nóng vội, đốt cháy giai đoạn. Trong bài “Nói chuyện tại Hội nghị phong trào hợp tác hoá nông nghiệp”, Người căn dặn: “Phải phát triển hợp tác xã một cách thật chắc chắn, không nên chạy theo số lượng”[18]. Tiếp đó, trong bài nói chuyện tại Hội nghị Miền núi, ngày 16-9-1962; Người đề cập: “Quy mô hợp tác xã không nên quá to, quá to thì khó quản lý. Cũng không nên quá nhỏ, quá nhỏ thì sức ít, khó phát triển”[19]. Nguyên tắc phát triển từng bước, phù hợp thực tiễn cũng được Người đề cập trong xây dựng HTX. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh yêu cầu phát triển HTX từng bước, từ thấp đến cao, tránh nóng vội và duy ý chí. Người chỉ rõ: “Gốc của thắng lợi là ở tổ chức, trước hết là tổ đổi công cho tốt rồi tiến dần lên hợp tác xã nông nghiệp”[20]. Theo Người, quá trình hợp tác hóa phải phù hợp với trình độ sản xuất, nhận thức của người dân và điều kiện từng địa phương. Người nhiều lần căn dặn: “Đường lối cải tạo xã hội chủ nghĩa của Đảng đối với nông nghiệp là đưa nông dân làm ăn riêng lẻ đi dần từ tổ đổi công (có mầm mống xã hội chủ nghĩa), tiến lên hợp tác xã cấp thấp (nửa xã hội chủ nghĩa), rồi tiến lên hợp tác xã cấp cao (xã hội chủ nghĩa)”[21]. Các hình thức hợp tác: tổ đổi công, HTX cấp thấp, HTX cấp cao, phản ánh trong bản thân chúng sự thống nhất giữa các điều kiện khách quan và các nhân tố chủ quan. Quan điểm này cho thấy tư duy biện chứng và tinh thần tôn trọng quy luật khách quan của Hồ Chí Minh trong tổ chức hợp tác xã.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò của đội ngũ cán bộ trong xây dựng và phát triển hợp tác xã. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh bất kì công việc gì thiếu cán bộ thì khó thực hiện được. Vì vậy, muốn thúc đẩy phong trào HTX thì trước hết cần phải lựa chọn, đào tạo cán bộ chuyên về hợp tác xã. Người viết: “Chính phủ nên mở ở các tỉnh những lớp huấn luyện cán bộ chuyên về hợp tác xã. Học xong những người cán bộ đó về làng sẽ là những cái loa truyền bá lý tưởng hợp tác xã. Đồng thời, họ lại là những người giúp việc đắc lực cho dân chúng trong công cuộc vận động mở hợp tác xã”[22]. Theo Người, cán bộ phải gần dân, hiểu dân, dân chủ và gương mẫu. Người nhấn mạnh rằng ban quản trị HTX phải “chí công vô tư”, chống tham ô, lãng phí và quan liêu. Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Cao Bằng (ngày 21-2-1961), Người nhắc nhở: “Cán bộ, ban quản trị phải công bằng, dân chủ. Mọi việc phải bàn bạc với xã viên, sổ sách, tiền của phải rõ ràng minh bạch”[23]. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chất lượng cán bộ có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả hoạt động của hợp tác xã. Người khẳng định: “Điều quan trọng bậc …để phát triển mạnh nông nghiệp là chỉnh đốn các ban quản trị hợp tác xã cho thật tốt. Ban quản trị tốt thì hợp tác xã  tốt. Hợp tác xã tốt thì nông nghiệp nhất định phát triển tốt”[24].

1.5. Quan điểm về quản lý của Nhà nước đối với hợp tác xã

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của hợp tác xã - Nhà nước giữ vai trò định hướng và hỗ trợ. Tuy nhiên, vai trò đó chủ yếu là định hướng, hỗ trợ và tạo điều kiện chứ không làm thay hợp tác xã. Nhà nước cần xây dựng cơ chế, chính sách và pháp luật phù hợp để hỗ trợ HTX phát triển. Sự hỗ trợ đó bao gồm vốn, khoa học kỹ thuật, đào tạo cán bộ và tạo điều kiện tiêu thụ sản phẩm. Người cũng nhấn mạnh vai trò của công tác tuyên truyền, giáo dục và vận động quần chúng trong phát triển hợp tác xã, muốn nhân dân tham gia HTX thì phải giải thích rõ lợi ích và làm cho người dân thấy được hiệu quả thực tế. “Chính phủ cố gắng phục vụ lợi ích của hợp tác xã, của nông dân và của nhân dân nói chung. Hợp tác xã, nông dân phải bảo đảm làm trọn nghĩa vụ đối với Nhà nước. Làm như vậy thì ích nước lợi nhà, xã viên có lợi, hợp tác xã có lợi, Nhà nước cũng có lợi”[25]. Trong mối quan hệ với Đảng, Người nhấn mạnh “Đảng lãnh đạo nông dân xây dựng hợp tác xã... Đảng lại đề ra kế hoạch 5 năm phát triển nông nghiệp. Kế hoạch đó nhất định là đúng và có lợi cho nông dân, cho nước nhà”. Người yêu cầu: “Các cơ quan nhà nước phải quan tâm hơn nữa đến nông nghiệp, phát huy nhiều hơn nữa tác dụng của ngành mình trong sản xuất nông nghiệp. Các cán bộ tỉnh, huyện phải đi sâu xuống các hợp tác xã, giúp đỡ các hợp tác xã tiến bộ... Cái gốc trong việc lãnh đạo hợp tác xã vẫn là chi bộ đảng ở cơ sở”[26]. Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn lưu ý Nhà nước không làm thay hợp tác xã. Người cho rằng HTX phải có tính tự chủ, xã viên phải là chủ thể thực sự của quá trình tổ chức và quản lý. Hồ Chí Minh nhiều lần phê phán bệnh hành chính hóa, bao cấp và áp đặt mệnh lệnh trong quản lý hợp tác xã. Theo Người, nếu Nhà nước can thiệp quá sâu và làm thay người dân thì sẽ làm mất tính chủ động và động lực phát triển của hợp tác xã.

2. Giá trị lịch sử và ý nghĩa thực tiễn

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lợi ích, nguyên tắc, bản chất, cách thức tổ chức và quản lý Nhà nước đối với sự phát triển HTX có giá trị lịch sử và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với tiến trình phát triển kinh tế tập thể ở Việt Nam. Trong bối cảnh đất nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nền sản xuất nhỏ chiếm ưu thế, những quan điểm của Người đã góp phần định hướng cho quá trình tổ chức lại sản xuất nông nghiệp và xây dựng quan hệ sản xuất mới. Thực tiễn lịch sử chứng minh sau ba năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, HTX nông nghiệp ở đồng bằng Bắc Bộ tăng cả về số lượng và quy mô. Nếu như năm 1958 ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ, chỉ có 214 HTX nông nghiệp, đến năm 1960 đã có 18.690 HTX, tăng lên gấp 9 lần[27]. Riêng miền biển, tính đến ngày 24-9-1960, toàn miền Bắc đã có 537 HTX nghề cá bao gồm 27.561 hộ, chiếm 63,9% tổng số hộ dân đánh cá, đặc biệt huyện Hải Hậu (Nam Định), đã kết nạp 172 hộ theo đạo Công giáo[28]. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh (Trưởng ban Công tác nông thôn Trung ương) nhận xét: “Trung ương rất vui vẻ khi thấy rằng, trong ba năm qua chúng ta vừa làm hợp tác hóa vừa sản xuất, có mùa mất, mùa được, thế mà sản xuất nông nghiệp đã tăng bình quân hàng năm từ 5 đến 6%, do đó đời sống của nông dân xã viên đã được cải thiện một bước về vật chất và văn hóa”[29]. Cùng với đó, tổng kết công tác vận động hợp tác hóa nông nghiệp 1960, đồng chí Trường Chinh khẳng định: “Phong trào hợp tác hóa hiện nay căn bản là tốt lành, lành mạnh, mang tính chất cách mạng của quần chúng”[30].

Tiếp đó, giai đoạn 1961-1965, cũng có thể coi là thời kỳ đỉnh cao của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp. Nếu năm 1961, toàn miền bắc mới có 8.403 HTX sản xuất nông nghiệp từ đến năm 1965 có 18.560 HTX bậc cao, chiếm 76,7% số hợp tác xã[31]. Đến thời điểm này, nông thôn miền Bắc lúc này đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét: “Làng xóm ta xưa kia lam lũ quanh năm mà vẫn quanh năm đói rách. Làng xóm ta ngày nay bốn mùa nhộn nhịp cảnh làm ăn tập thể. Đâu đâu cũng có trường học, nhà gửi trẻ, nhà hộ sinh, câu lạc bộ sân và kho của hợp tác xã, nhà mới của xã viên. Đời sống vật chất ngày càng ấm no, đời sống tinh thần ngày càng tiến bộ”[32]. Sự phát triển đó, không những làm cho đời sống nhân dân tốt lên mà còn góp phần quan trọng để miền Bắc thực hiện thắng lợi nghĩa vụ hậu phương đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Những năm phát triển về sau, HTX nông nghiệp luôn đóng vai trò là “hậu phương vững chắc” trong kháng chiến. Từ năm 1965 đến năm 1975, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp ở miền Bắc bước vào giai đoạn phát triển và hoàn thiện, với trọng tâm là xây dựng và mở rộng mô hình hợp tác xã bậc cao trên phạm vi toàn miền. Đến năm 1973, toàn miền Bắc có 18.311 hợp tác xã nông nghiệp; năm 1975 còn khoảng 17.000 hợp tác xã. Tỷ lệ hộ nông dân tham gia hợp tác xã đạt mức rất cao ở hầu hết các vùng: Đồng bằng Bắc Bộ có 98,2% tổng số hộ là xã viên, trong đó 99,7% số hộ xã viên thuộc các hợp tác xã bậc cao; vùng trung du đạt tương ứng 98,1% và 100%; khu IV cũ đạt 98,4% và 97,5%; khu vực miền núi đạt 81,2% và 86,8%. Những số liệu này phản ánh quá trình hợp tác hóa đã được triển khai sâu rộng, đưa hợp tác xã bậc cao trở thành mô hình tổ chức sản xuất phổ biến trong nông nghiệp miền Bắc. Thông qua việc tổ chức lại sản xuất, các HTX đã cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiền tuyến, đóng góp sức người sức của, đồng thời duy trì ổn định đời sống để nhân dân yên tâm bám đất, bảo vệ quê hương, góp phần quan trọng xây dựng vững chắc hậu phương miền Bắc, chi viện giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Từ năm 1976 đến năm 1986, là thời kỳ kinh tế tập thể, kinh tế HTX phát triển mạnh mẽ, rộng khắp trên cả nước, tạo nên sức mạnh của kinh tế xã hội chủ nghĩa; đồng thời là thời kỳ HTX dần bộc lộ những yếu kém do nóng vội, chủ quan, lấy mục tiêu cải tạo xã hội chủ nghĩa làm then chốt, chạy theo số lượng, mở rộng quy mô HTX quá nhanh, không tính toán đầy đủ đến trình độ của lực lượng sản xuất. Phát hiện sai sót, Đảng và Nhà nước ta đã từng bước điều chỉnh đường lối, chính sách đối với kinh tế HTX cho phù hợp với yêu cầu thực tế. Từ năm 1986 đến nay, cùng với quá trình đổi mới, đi lên của đất nước, những chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước đối với HTX đã có nhiều thay đổi, từng bước hoàn thiện qua các kỳ đại hội của Đảng và cụ thể hóa qua các kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. 

Sự kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về HTX nói chung, đặc biệt là những quan điểm cụ thể về lợi ích, nguyên tắc, bản chất, cách thức tổ chức và quản lý Nhà nước đối với sự phát triển HTX được thể hiện rõ trong các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng đã xác định phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể từng bước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Quan điểm này tiếp tục được làm rõ trong Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa VI) về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (1988), khi khẳng định hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự nguyện của nông dân, hoạt động theo nguyên tắc tự quản, tự chịu trách nhiệm, có tư cách pháp nhân và bình đẳng trước pháp luật với các thành phần kinh tế khác. Đây là bước chuyển có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu sự thay đổi căn bản trong nhận thức về mô hình HTX, chuyển từ cơ chế hành chính bao cấp sang mô hình tổ chức kinh tế dựa trên tính tự chủ và quyền làm chủ của xã viên. Bước sang thập niên 1990 và đầu thế kỷ XXI, cùng với quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, đường lối của Đảng tiếp tục phát triển theo hướng tiệm cận các nguyên tắc phổ biến của phong trào hợp tác xã quốc tế. Đại hội VII nhấn mạnh phát huy tính tự chủ của kinh tế hộ, đồng thời phát triển các hình thức hợp tác và HTX dịch vụ nhằm hỗ trợ sản xuất, cung ứng vật tư và tiêu thụ sản phẩm. Đại hội VIII tiếp tục khẳng định HTX là sự liên kết tự nguyện của những người lao động nhằm phát huy sức mạnh tập thể để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và cải thiện đời sống. Những quan điểm này đã tạo cơ sở chính trị quan trọng cho việc hoàn thiện Luật Hợp tác xã và xác lập rõ hơn địa vị pháp lý của HTX trong nền kinh tế nhiều thành phần. Từ Đại hội IX đến Đại hội XIII, nhận thức của Đảng về kinh tế tập thể ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn. Đảng khẳng định kinh tế tập thể là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với kinh tế nhà nước từng bước trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Trên cơ sở đó, nhiều chủ trương quan trọng được ban hành nhằm củng cố các tổ hợp tác, HTX hiện có, phát triển đa dạng các mô hình hợp tác, khuyến khích hình thành liên hiệp HTX và doanh nghiệp của HTX khi đủ điều kiện phát triển. Đồng thời, Đảng đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của kinh tế tập thể; phát triển hợp tác xã kiểu mới gắn với kinh tế hộ, doanh nghiệp, chuỗi giá trị, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Qua các kỳ Đại hội X, XI, XII và XIII, quan điểm phát triển hợp tác xã ngày càng được hoàn thiện theo hướng vừa bảo đảm các nguyên tắc HTX, vừa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và phát triển bền vững.

Ngày 16-6-2022, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới, khẳng định kinh tế tập thể là một thành phần kinh tế quan trọng, cùng với kinh tế nhà nước từng bước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; xác định HTX là nòng cốt của các hình thức tổ chức kinh tế hợp tác; nhấn mạnh nguyên tắc hoạt động dựa trên sự kết hợp giữa sở hữu riêng của thành viên và sở hữu chung của tập thể, bảo đảm tính tự nguyện, hợp tác, cùng có lợi và phân phối gắn với mức độ tham gia, hiệu quả lao động cũng như vốn góp. Nghị quyết đồng thời yêu cầu phát triển kinh tế tập thể cả về quy mô và chất lượng, ưu tiên lĩnh vực nông nghiệp theo hướng gắn với chuỗi giá trị, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và xác định phát triển kinh tế tập thể là nhiệm vụ chính trị thường xuyên của cả hệ thống chính trị. Tiếp đó, quá trình thể chế hóa Nghị quyết số 20-NQ/TW được triển khai đồng bộ thông qua hoạt động lập pháp của Quốc hội khóa XV và việc Chính phủ ban hành Nghị quyết số 106/NQ-CP tháng 7-2023 về phát triển HTX nông nghiệp trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Những chủ trương này không chỉ khẳng định quyết tâm đổi mới mô hình HTX phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà còn phản ánh sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện phát triển mới của đất nước.

Song hành với quá trình hoàn thiện chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển HTX, hệ thống pháp luật về HTX cũng không ngừng được đổi mới và hoàn thiện nhằm tạo lập hành lang pháp lý phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở các quan điểm được xác lập qua các kỳ Đại hội Đảng và các nghị quyết chuyên đề về kinh tế tập thể, Quốc hội đã từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đối với mô hình HTX. Một dấu mốc quan trọng là việc Quốc hội khóa XIII thông qua Luật Hợp tác xã năm 2012 vào ngày 20-11-2012 (có hiệu lực từ ngày 01-7-2013), thay thế Luật Hợp tác xã năm 2003. Luật năm 2012 đã tạo bước chuyển căn bản trong nhận thức và tổ chức hoạt động của HTX, khẳng định hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do các thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác nhằm đáp ứng nhu cầu chung trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, dân chủ và cùng có lợi. Tiếp nối quá trình đổi mới đó, cùng với việc Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16-6-2022 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Hợp tác xã (sửa đổi) ngày 20-6-2023, có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-2024. Luật mới đã thể chế hóa đầy đủ hơn các quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tập thể, tiếp tục hoàn thiện mô hình HTX kiểu mới theo hướng hiện đại, minh bạch, nâng cao quyền tự chủ của thành viên, mở rộng khả năng huy động nguồn lực, thúc đẩy liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Quá trình hoàn thiện pháp luật về HTX qua các giai đoạn cho thấy sự thống nhất giữa đường lối của Đảng và hoạt động lập pháp của Nhà nước, đồng thời phản ánh sự kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức, quản lý và phát triển HTX trong điều kiện mới.

3. Kết luận

Những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lợi ích, nguyên tắc tổ chức, bản chất hợp tác, phương thức quản lý và vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển HTX không chỉ có ý nghĩa đối với quá trình xây dựng nền kinh tế tập thể trong những năm đầu của chế độ mới mà còn tiếp tục giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước hiện nay. Trải qua gần bốn thập niên đổi mới, mặc dù bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội đã có nhiều thay đổi, tư tưởng của Người về xây dựng hợp tác xã trên cơ sở tự nguyện, cùng có lợi, dân chủ, bình đẳng, lấy người dân làm chủ thể và Nhà nước giữ vai trò định hướng, hỗ trợ vẫn là nền tảng tư tưởng quan trọng trong hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế tập thể.

Những nội dung cốt lõi trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh như tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi, phát triển từng bước, chống hành chính hóa và đề cao vai trò hỗ trợ của Nhà nước cho thấy tầm nhìn vượt trước của Người trong tổ chức và quản lý HTX. Đây cũng là những nguyên tắc có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng đối với việc đổi mới kinh tế tập thể ở Việt Nam hiện nay. Thực tiễn phát triển HTX ở Việt Nam trong nhiều giai đoạn lịch sử cũng cho thấy, ở đâu bảo đảm tốt lợi ích của xã viên, tôn trọng nguyên tắc dân chủ và phát huy tính tự chủ của HTX thì ở đó kinh tế tập thể phát triển hiệu quả và bền vững. Ngược lại, khi nóng vội, duy ý chí hoặc hành chính hóa thì HTX dễ rơi vào hình thức, kém hiệu quả và làm suy giảm động lực của người lao động.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, phát triển HTX nông nghiệp trở thành yêu cầu khách quan nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nền nông nghiệp, thúc đẩy liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời nâng cao thu nhập, đời sống của nông dân. Đây không phải là sự quay trở lại mô hình HTX thời kỳ bao cấp, mà là quá trình kế thừa có chọn lọc những giá trị tích cực, tổng kết thực tiễn 40 năm đổi mới để xây dựng mô hình HTX kiểu mới phù hợp với quy luật phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Có thể khẳng định rằng, quan điểm Hồ Chí Minh về lợi ích, nguyên tắc, bản chất, cách thức tổ chức và quản lý của Nhà nước đối với sự phát triển HTX vẫn giữ nguyên giá trị thời đại và sức sống trường tồn. Những luận điểm của Người về lấy lợi ích của người dân làm trung tâm, bảo đảm nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, cùng có lợi; kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; đồng thời phát huy vai trò kiến tạo, quản lý và hỗ trợ của Nhà nước tiếp tục là cơ sở lý luận quan trọng để Đảng và Nhà nước hoạch định chính sách phát triển kinh tế tập thể. Đó cũng là nền tảng tư tưởng góp phần xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, sinh thái, hội nhập và phát triển bền vững, củng cố khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, hướng tới mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong thời kỳ mới.


Chú thích:
[1] Xem thêm: Luật HTX 2023, Công báo, từ số 861 đến số 862, ngày 20-06-2023.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.246.

[3] Một thành ngữ mô tả hiện tượng làm việc chiếu lệ, hình thức trong thời kỳ bao cấp tại Việt Nam. Thuật ngữ này ám chỉ việc người lao động cố đi làm để đủ ngày công (rong công) nhưng không mang lại hiệu quả, và báo cáo láo khối lượng công việc hoàn thành (phóng điểm) để nhận thù lao.

[4] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 10, tr.410.

 [5] "Guồng máy nông nghiệp", báo Nhân dân, ngày 28-4-1961.

 [6] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 2, tr.343 - 344.

 [7] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 12, tr.209.

 [8] Tư tưởng Hồ Chí Minh về Hợp tác xã, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.46.

[9] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 12, tr.481.

[10] Hồ Chớ Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.246

[11] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 2, tr.343.

[12] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.187.

 [13] Tư tưởng Hồ Chí Minh về Hợp tác xã, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.13.

[14] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 8, tr.293.

[15] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 2, tr.347.

[16] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 11, tr.416.

[17] Báo Nhân dân, số 2595, ngày 28-4-1961.

[18] "Bài nói chuyện tại Hội nghị phong trào hợp tác hoá nông nghiệp", báo Nhân dân, ngày 12-9-1959; Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 12. tr.279.

[19] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 13. tr.460.

[20] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 11, tr.416.

[21] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 12, tr.413.

[22] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2002, tập 4, tr.260.

[23] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 13, tr.45.

[24] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 13, tr.375.

[25] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 13, tr.221.

[26] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 13, tr.221-222.

[27] Tốc độ phát triển hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ trong giai đoạn 1958-1960, Trung tâm lưu trữ Quốc gia III, Phông Bộ Nông lâm, Hồ sơ 629.

[28] Báo Nhân dân, ngày 28-9-1960.

[29] Nguyễn Chí Thanh, Về sản xuất nông nghiệp và hợp tác hóa nông nghiệp, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1968, tr.8.

[30] Báo Nhân dân, ngày 17-9-1959.

[31] "Thực trạng kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 1986 - 1990", Tạp chí Thống kê, Hà Nội, 1990, tr.31.

[32] Báo Nhân dân, ngày 28-3-1964.

TS. Ngô Hoàng Nam
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Sử học
Tin cùng chuyên mục
1 2 3 4 5  ... 
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1