Quan điểm của C.Mác về bản chất bất công của chủ nghĩa tư bản trong quan hệ phân phối
Tóm tắt: Tinh thần dân chủ trong Nho giáo không phải là điều dễ tìm, đặc biệt khi học thuyết này làm bệ đỡ cho hệ tư tưởng của nhà nước phong kiến trung ương tập quyền phương Đông. Tuy nhiên, xét trên một số phương diện tư tưởng của nó như dân bản, thân dân, biện pháp thực hiện an dân và đề cao dân bản, chúng ta có thể khẳng định trong Nho giáo đã có những manh nha của tư tưởng dân chủ. Có thể nói, Nho giáo ở Việt Nam do tiếp biến với các yếu tố bản địa, ở một số trường hợp điển hình của đời sống chính trị - xã hội, đã thể hiện tinh thần dân chủ đáng được quan tâm. Đó cũng là mục đích của bài viết nhằm làm rõ tinh thần dân chủ trong lịch sử Nho giáo Việt Nam.
Trong
lịch sử đã có nhiều quan niệm khác nhau về công bằng xã hội được bàn đến dưới
nhiều dạng khác nhau và từ những góc độ khác nhau. Tuy nhiên, chỉ đến chủ nghĩa
Mác, quan niệm về công bằng xã hội mới thực sự có ý nghĩa đối với việc giải
phóng con người thoát khỏi chế độ xã hội áp bức và bất công. Có thể nói, việc
nghiên cứu quan niệm của chủ nghĩa Mác về công bằng xã hội, trong đó có tư
tưởng của Ph.Ăngghen về thực chất của “công bằng xã hội” trong chủ nghĩa tư
bản, là cơ sở để qua đó, chúng ta thấy được giá trị đích thực của công bằng xã
hội trong chủ nghĩa xã hội. Cơ sở lý luận này có một ý nghĩa vô cùng quan trọng
đối với thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội vì mục tiêu xây dựng một nước Việt
Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, mà toàn Đảng, toàn dân
ta đã và đang ra sức phấn đấu để đạt tới.
Khi nền
sản xuất tư bản chủ nghĩa từng bước khẳng định được địa vị thống trị của mình
trong nền sản xuất xã hội thì những quan điểm về sự phân phối và trao đổi dựa
trên nguyên tắc trao đổi ngang giá của nền sản xuất hàng hoá đã ngày càng được
sử dụng như là thước đo của công bằng xã hội. Khi quan hệ trao đổi ngang giá
trong nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa đã trở thành thống trị và là động
lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển lực lượng sản xuất trong nền sản xuất này,
giai cấp tư sản đã coi nguyên tắc trao đổi ngang giá chính là thước đo của công
bằng xã hội. Song, dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, trong những hàng hóa được trao
đổi và mua bán trên thị trường, sức lao động trở thành một thứ hàng hóa đặc
biệt mà bên mua là nhà tư bản và bên bán là người công nhân. Bởi vậy, thực chất
của nguyên tắc trao đổi ngang giá luôn xoay quanh quan hệ mua bán sức lao động.
Tuy
nhiên, nếu như chủ nghĩa tư bản từ chỗ là bước tiến có ý nghĩa giải phóng những
người nông nô thoát khỏi tình trạng lệ thuộc vào chúa đất phong kiến, biến họ
thành người chủ sở hữu trên những mảnh đất nhỏ bé của mình, thì đến giai đoạn
này, chính chủ nghĩa tư bản với quan hệ trao đổi ngang giá hàng hóa sức lao
động ấy lại cuốn những người nông dân vào cơn lốc cạnh tranh và đẩy hàng loạt
trong số họ rơi vào tình trạng phá sản, trở thành những người vô sản. Theo
Ph.Ăngghen, sở dĩ có tình hình đó là bởi “cái “tự do sở hữu” được thoát khỏi
xiềng xích phong kiến, ngày nay đã được thực hiện trong thực tế, thì đối với
người tiểu tư sản và tiểu nông, chẳng qua chỉ là tự do bán cái sở hữu nhỏ của
họ – cái sở hữu bị đè bẹp bởi sự cạnh tranh mãnh liệt của đại tư bản và đại chiếm
hữu ruộng đất lớn – cho chính những bọn chủ đầu sỏ ấy; do đó, đối với người
tiểu tư sản và tiểu nông, “tự do sở hữu” đã biến thành tự do mất sở hữu. Sự
phát triển nhanh chóng của công nghiệp trên cơ sở tư bản chủ nghĩa đã làm cho
sự nghèo khổ và khốn cùng của quần chúng lao động trở thành điều kiện sống còn
của xã hội” [1, tr.280].
Cũng
chính ở giai đoạn mà chủ nghĩa tư bản bước vào nền sản xuất đại công nghiệp thì
nguyên tắc trao đổi tự do và phân phối đúng với giá trị của sức lao động sản
xuất ra hàng hoá đã không còn mang ý nghĩa là vũ khí đấu tranh chống lại trật
tự phong kiến trước đây. Về thực chất, đây không còn là nguyên tắc để thực hiện
sự công bằng trước hết đối với những người sản xuất nhỏ (với đặc điểm là người
sở hữu trực tiếp sức lao động và tư liệu sản xuất của mình), thậm chí nguyên
tắc trao đổi tự do giữa những người sản xuất nhỏ giờ đây đã bị đè bẹp bởi sự
cạnh tranh mãnh liệt của đại tư bản và đại sở hữu ruộng đất mà Ph.Ăngghen đã
chỉ ra. Vì thế, “số phận của chế độ xã hội lý tính cũng không đẹp đẽ gì hơn. Sự
đối lập giữa những người giàu và những người nghèo đáng lẽ được giải quyết
trong đời sống hạnh phúc phổ biến thì lại trở thành sâu sắc hơn...” [1,
tr.280].
Như
vậy, giai cấp tư sản thời kỳ này đã không còn đóng vai trò là giai cấp đi tiên
phong giải phóng xã hội khỏi ách chuyên chế phong kiến như giai đoạn trước đó
mà nó đã từng tuyên bố. Ngược lại, giai cấp tư sản đã tỏ rõ sự bất lực trước
những vấn đề xã hội quan trọng nhất – vấn đề xây dựng một xã hội công bằng và
bình đẳng thực sự giữa người với người. Trong chế độ xã hội đó, mặc dù về mặt
kinh tế, mọi quan hệ được coi là công bằng khi chúng được thực hiện dựa trên
nguyên tắc trao đổi ngang giá, còn trong lĩnh vực chính trị và các quan hệ xã
hội khác thì mọi người được tuyên bố là bình đẳng trước pháp luật, nhưng thực
ra, đó chỉ là một hệ thống pháp luật nhằm bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp
tư sản. Theo Ph.Ăngghen: “Sự quy định giá trị hàng hoá bằng lao động và sự trao
đổi tự do sản phẩm lao động giữa những người sở hữu hàng hoá bình quyền được
thực hiện trên cơ sở sự đo lường giá trị theo cách như vậy là những nền tảng
thực tế, như Mác đã chứng minh, trên đó được xây dựng toàn bộ hệ tư tưởng về
chính trị, luật pháp và triết học của giai cấp tư sản hiện đại”[2, tr.274].
Đứng
trên lập trường bảo vệ lợi ích của giai cấp vô sản, chống lại nguyên tắc công
bằng của chủ nghĩa tư bản dựa trên (quan hệ trao đổi ngang giá), C.Mác và
Ph.Ăngghen đi đến xây dựng quan điểm của các ông về công bằng xã hội với nội
dung cốt lõi là nguyên tắc phân phối theo lao động.
Vạch rõ
sự bất công của chế độ phân phối theo nguyên tắc trao đổi ngang giá, khi viết
Tiền công công bằng cho một ngày lao động công bằng, Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh
rằng, đây chỉ là quan hệ trao đổi có lợi đối với riêng giai cấp tư sản và ngược
lại, là bất lợi đối với giai cấp công nhân trong cuộc trao đổi “ngang giá” giữa
sức lao động mà người công nhân bỏ ra và tiền công mà nhà tư bản trả cho họ, cụ
thể là ở chỗ “công nhân bỏ ra nhiều, nhà tư bản chi ra ít” [1, tr.336].
Ph.Ăngghen đã viết một cách châm biếm rằng, “đó là một loại công bằng hết sức
đặc biệt” [1, tr.336]. Nhưng tình trạng đó là do đâu hay nguyên nhân của nó là
gì? Ph.Ăngghen giải thích rằng, theo các nhà kinh tế chính trị học tư sản thì
tiền công và ngày lao động do sự cạnh tranh quy định, đã được thoả thuận giữa
hai bên (người công nhân và nhà tư bản) theo nguyên tắc trao đổi ngang giá,
thuận mua vừa bán. Và, thoạt nhìn bên ngoài thì điều đo dường như là rất công
bằng. Nhưng, như Ph.Ăngghen đã vạch rõ: “Sự thật không phải như vậy. Nếu nhà tư
bản không đồng ý với công nhân, thì y có điều kiện để chờ đợi và sống bằng tư
bản của y. Người công nhân không thể làm như thế được (...). Người công nhân
ngay từ đầu đã ở vào những điều kiện bất lợi trong cuộc đấu tranh. Cái đói đặt
anh ta vào một hoàn cảnh hết sức bất lợi. Thế mà, theo khoa kinh tế chính trị
của giai cấp các nhà tư bản, đó là đỉnh cao của sự công bằng” [1, tr.367]. Vì
vậy, theo C.Mác và Ph.Ăngghen, muốn có công bằng xã hội thực sự thì phải thực
hiện được nguyên tắc phân phối theo lao động, nhưng phải phân phối đúng với giá
trị của sức lao động.
Bên
cạnh việc phê phán quan điểm thực hiện công bằng xã hội theo nguyên tắc “trao
đổi ngang giá” của các nhà kinh tế chính trị học tư sản, Ph.Ăngghen còn phê
phán cả sự áp dụng thuyết Ricácđô theo kiểu bình quân (nghĩa là theo kiểu xã
hội chủ nghĩa không tưởng).
Ph.Ăngghen
cho rằng, từ hai luận điểm mà thuyết giá trị của Ricácđô xác định: “1) Giá trị
của mọi hàng hoá đều được quy định một cách duy nhất và tuyệt đối bởi số lượng
lao động cần thiết cho việc sản xuất ra hàng hóa đó, và 2) sản phẩm của toàn bộ
lao động xã hội được chia cho ba giai cấp: địa chủ (địa tô), tư bản (lợi nhuận)
và công nhân (tiền công)”[2, tr.269], ngay từ năm 1821, ở Anh người ta đã rút
ra những kết luận xã hội chủ nghĩa. Ông viết, trong bài phê phán Pruđông, C.Mác
đã chỉ rõ rằng: “Người nào hiểu biết ít nhiều sự phát triển của kinh tế chính
trị học ở nước Anh, người đó không thể không biết rằng, vào những thời kỳ khác
nhau, hầu hết những người theo chủ nghĩa xã hội nước này đều đề nghị áp dụng
theo kiểu bình quân (nghĩa là theo kiểu xã hội chủ nghĩa) thuyết Ricácđô”[2,
tr.269].
Ph.Ăngghen
không chỉ phê phán Ricácđô, mà còn phê phán cả những người xã hội chủ nghĩa áp
dụng thuyết của Ricácđô. Trong Lời tựa viết cho tác phẩm Sự khốn cùng của triết
học, Ph.Ăngghen nhấn mạnh: “Việc áp dụng (...) thuyết Ricácđô - toàn bộ sản
phẩm xã hội, sản phẩm của công nhân đều thuộc về họ, những người sản xuất thật
sự duy nhất, - dẫn thẳng tới chủ cộng sản. Nhưng như Mác đã nhận xét (...),
hiểu theo nghĩa kinh tế – hình thức kết luận ấy là sai, vì đó đơn giản chỉ là
sự áp dụng đạo đức vào kinh tế chính trị học. Theo những quy luật của kinh tế
chính trị học tư sản, phần lớn nhất sản phẩm không thuộc về công nhân, những
người đã sản xuất ra nó. Khi chúng tôi nói: điều đó là bất công, không thể như
thế được, - thì kinh tế chính trị học không có một mối quan tâm nào trực tiếp
đến điều đó cả”[2, tr.272].
Việc
phê phán những quan điểm về công bằng mang tính ảo tưởng của những người theo
môn phái xã hội chủ nghĩa hồi đó chính là nhằm phê phán ảo tưởng muốn thực hiện
được nguyên tắc phân phối (theo lao động) của những người xã hội chủ nghĩa áp
dụng thuyết Ricácđô. Bởi theo quan điểm của Ph.Ăngghen, “sự công bằng hình như
đòi hỏi cả hai bên ngay từ đầu đã phải được đặt vào những điều kiện như nhau”
[1, tr.367]; tuy nhiên, trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa thì sự thật lại
không phải như vậy. Trong cuộc chạy đua với nhà tư bản, người lao động luôn ở
vào thế bất lợi.
Thực
ra, trong nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa, nguyên tắc trao đổi ngang giá
được thực hiện đối với mọi hàng hoá nói chung, trong đó có cả hàng hoá sức lao
động. Hàng hoá sức lao động trong chủ nghĩa tư bản thuộc sở hữu của chính người
lao động, do đó, họ được tự do định đoạt đối với lao động của chính mình, nghĩa
là người lao động ở đây đã thực sự được giải phóng khỏi sự lệ thuộc vào ruộng
đất của chủ đất. Nhờ đó, người công nhân trong chủ nghĩa tư bản được tham gia
một cách tự do, bình đẳng vào quan hệ mua bán sức lao động với nhà tư bản, được
tự quyết định việc bán hay không bán sức lao động của mình cho nhà tư bản trên
cơ sở “thuận mua vừa bán” theo đúng quy luật của thị trường. Xét từ góc độ này,
quan hệ phân phối sản phẩm giữa nhà tư bản và người công nhân dựa trên sự tham
gia đóng góp công sức của hai bên dường như là công bằng: Người công nhân được
nhận đầy đủ tiền công theo đúng giá cả đã được thoả thuận giữa họ với nhà tư
bản, nhà tư bản cũng được nhận toàn bộ phần còn lại của sản phẩm do những đầu
tư về vốn sản xuất (dưới dạng tư liệu sản xuất và tiền công trả cho công nhân)
[4, tr.144].
Song,
nếu xem xét kỹ hơn thì sự thực lại không hoàn toàn như vậy. Trước hết, cần nhận
xét rằng trong nền sản xuất hàng hoá, về lý thuyết, bản thân nguyên tắc trao
đổi ngang giá mang tính công bằng và ở phương diện này, nó là động lực của sự
phát triển kinh tế. Nhưng trên thực tế, trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ
nghĩa, nguyên tắc trao đổi ngang giá này đã không được thực hiện đúng như lý
thuyết. Thực vậy, trong nền kinh tế thị trường đó, giá cả trên thị trường không
phải khi nào cũng phù hợp với giá trị vì nó được hình thành dưới tác động của
nhiều yếu tố. C.Mác nhận xét: “Giá trị hàng hoá được quy định bởi lao động cần
thiết để sản xuất ra hàng hoá đó. Nhưng tuy vậy, người ta thấy rằng trong thế
giới tội lỗi của chúng ta hàng hoá được bán ra lúc cao, lúc thấp hơn giá trị
của nó, vả lại không chỉ do những dao động bắt nguồn từ cạnh tranh”[2, tr.273].
Riêng
đối với trường hợp mua – bán sức lao động thì còn phải tính đến những sự thực
sau đây:
Thứ
nhất, trong quan hệ mua – bán sức lao động giữa nhà tư bản và người công nhân,
nhà tư bản ở thế mạnh, vì họ sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất; còn người công
nhân ở thế yếu vì chỉ sở hữu sức lao động của bản thân mình. Những nhu cầu sinh
tồn tối thiểu của bản thân và gia đình buộc người công nhân phải chấp nhận bán sức
lao động thấp hơn giá trị của nó. Vì thế, việc người công nhân chỉ nhận được
phần tiền công ngang bằng với giá cả sức lao động của mình được đem bán trên
thị trường là sự trao đổi không ngang giá, chứ không phải là ngang giá. Hơn
nữa, trong điều kiện nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, hàng hoá sức lao động còn
phải chịu sự chi phối trực tiếp của quy luật cạnh tranh trên thị trường. Đứng
trước sự cạnh tranh, để không bị phá sản hay bị tiêu diệt, nhà tư bản cá biệt
buộc phải không ngừng cải tiến máy móc nhằm tăng năng suất lao động. Máy móc
được cải tiến sẽ làm cho một số lao động của con người trở thành thừa. Việc
tăng cường sử dụng và thường xuyên cải tiến máy móc đã dẫn đến tình
hình là tạo ra một số công nhân làm thuê vượt quá nhu cầu thuê mướn trung bình
của nhà tư sản. Và, như Ph.Ăngghen đã viết, “đạo quân ấy là hòn đá buộc chân
giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh sống còn giữa họ và tư bản: là yếu tố
điều tiết giữ tiền công ở mức thấp phù hợp với yêu cầu của tư bản. Như vậy là
máy móc, theo lời của Mác, trở thành công cụ mạnh mẽ nhất của nhà tư bản để
chống lại giai cấp công nhân; là công cụ lao động luôn luôn cướp mất tư liệu
sinh sống trong tay người lao động, và chính sản phẩm của công nhân lại trở
thành công cụ nô dịch bản thân họ”[1, tr.317].
Do vị
thế bất lợi trước sự chi phối bởi quy luật cạnh tranh đối với hàng hoá sức lao
động, nên người lao động luôn đứng trước mối đe doạ bị mất việc làm, tức là bị
mất nguồn sống của mình và gia đình mình. Người công nhân, theo Ph.Ăngghen,
“chỉ dựa vào tiền công để sống” nên họ đã “buộc phải nhận việc làm với những
địa điểm, thời gian và điều kiện nào mà anh ta có thể có được”[1, tr.367]. Tình
thế đó khiến họ không còn được tự do lựa chọn thực sự trong quan hệ trao đổi
được coi là tự nguyện – một đặc trưng của nguyên tắc công bằng trong nền sản
xuất hàng hoá - và do vậy, càng lâm vào tình cảnh buộc phải bán sức lao động
của mình dưới giá trị, mà không có sự lựa chọn nào khác.
Thứ
hai, trong giao dịch mua bán sức lao động giữa người bán (người công nhân) và
người mua (nhà tư bản) thì người bán nhận được giá trị của hàng hóa
sức lao động của họ tương ứng với một số tiền công theo giá cả của thị trường.
Còn người mua thì nhận được giá trị sử dụng của hàng hóa ấy và sử dụng nó để
biến những tư liệu sản xuất của mình thành một sản phẩm mới, bao gồm cả tư bản
ứng trước và cả phần giá trị thặng dư. Do đó, đối với người mua sức lao động
(nhà tư bản), “số giá trị đã ứng ra làm tiền công không phải chỉ giản đơn tái
hiện trong sản phẩm, mà lại còn được tăng thêm một khoản giá trị thặng dư nữa,
thì điều đó diễn ra không phải là do người bán đã bị lừa bịp - vì người này đã
nhận được giá trị của hàng hoá của anh ta rồi – mà chỉ do người mua đã tiêu
dùng hàng hoá đó”. Đây là một trao đổi hoàn toàn phù hợp với các quy luật kinh
tế của nền sản xuất hàng hoá và với quyền sở hữu do các quy luật ấy đẻ ra,
nhưng lại dẫn đến kết quả là: “1. sản phẩm thuộc về nhà tư bản, chứ không phải
thuộc về công nhân; 2. giá trị của sản phẩm ấy, ngoài giá trị của tư bản ứng
ra, còn bao gồm một giá trị thặng dư mà người công nhân đã tốn lao động để tạo
ra, còn nhà tư bản thì chẳng phải tốn gì cả, và tuy vậy giá trị thặng dư ấy lại
là vật sở hữu hợp pháp của nhà tư bản; 3. người công nhân vẫn duy trì được sức
lao động của mình và lại có thể đem bán nữa nếu tìm được người mua” [3,
tr.825-826].
Như
vậy, không giống với những hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động sau khi đưa vào
sử dụng còn tạo ra được giá trị mới lớn hơn giá trị ban đầu của nó mà nhà tư
bản đã mua. Vì thế, việc người lao động chỉ nhận được phần tiền công ngang bằng
với giá cả lúc được đem bán trên thị trường, chứ không phải ngang bằng với giá
trị gia tăng sau chu trình sản xuất đã chứng tỏ rằng, mặc dù quan hệ mua – bán
ở đây được coi là quan hệ trao đổi ngang giá, công bằng, nhưng về thực chất, đó
không phải là quan hệ công bằng. Nói cách khác, dưới vẻ ngoài công bằng, nguyên
tắc trao đổi ngang giá đã che giấu sự không công bằng thực sự trong nguyên tắc
phân phối chủ đạo của chủ nghĩa tư bản.
Thứ ba,
sự không công bằng trong phân phối của chủ nghĩa tư bản còn thể hiện ở chỗ chủ
nghĩa tư bản thực hiện phân phối sản phẩm sau chu trình sản xuất chủ yếu không
phải theo lao động mà theo mức độ đầu tư tư bản vào sản xuất kinh doanh, mặc
dầu chỉ có lao động của con người mới tạo ra giá trị thặng dư, mới làm gia tăng
giá trị của tư bản ban đầu sau chu trình sản xuất. Chính vì sản phẩm của lao
động được phân phối theo cách ấy nên “người nào không có sở hữu nào khác ngoài
sức lao động của mình ra… đều nhất định sẽ phải làm nô lệ cho những kẻ khác nắm
trong tay những điều kiện vật chất của lao động. Người đó chỉ có thể lao động
và do đó chỉ có thể sinh sống, khi được những kẻ này cho phép” [1, tr.27]. Hậu
quả của cách phân phối này là trong chủ nghĩa tư bản, ở điểm này như C.Mác cũng
đã chỉ ra, “Lao động càng phát triển lên thành lao động xã hội (người trích
nhấn mạnh) và do đó trở thành nguồn của của cải và của văn hoá thì sự nghèo khổ
và cảnh sống vất vưởng lại càng phát triển ở phía người lao động, còn của cải
và văn hoá lại ngày càng phát triển ở phía kẻ không lao động” [1, tr.29].
Như
vậy, nguyên tắc phân phối chủ đạo của chủ nghĩa tư bản sự thực vẫn là một
nguyên tắc phân phối không công bằng, chỉ có điều sự không công bằng này được
che giấu một cách tinh vi bởi một vẻ ngoài rất công bằng qua nguyên tắc trao
đổi ngang giá.
Mặc dầu
vậy, so với quan hệ phân phối mang tính cống nạp và lệ thuộc của người lao động
đối với lãnh chúa trong phương thức sản xuất phong kiến, thì nguyên tắc phân
phối chủ đạo trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn là một nguyên tắc
phân phối công bằng hơn, bởi vì, nó đã giải phóng người lao động khỏi sự trói
buộc vào ruộng đất, làm cho người lao động không còn phải lao động cống nạp cho
địa chủ qua các loại địa tô và đặc biệt là người lao động được hoàn toàn tự do
trong quan hệ mua – bán sức lao động như bất cứ một hàng hoá nào khác theo
nguyên tắc ngang giá trên thị trường. Thêm nữa, trong nguyên tắc phân phối ấy,
việc phân phối theo lao động đã được thực hiện ở mức độ nhất định (thể hiện ở
việc nhà tư bản trả tiền công cho người lao động thông qua mua – bán sức lao
động theo nguyên tắc thuận mua vừa bán). Những điều ấy chứng tỏ nguyên tắc phân
phối chủ đạo của chủ nghĩa tư bản vẫn là nguyên tắc phân phối bất công và nó
chỉ có thể được khắc phục ở một hình thái kinh tế xã hội cao hơn - hình thái
kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa [4, tr.148-149].
Như
vậy, để xây dựng được một xã hội công bằng thực sự thì phải xóa bỏ sự bất bình
đẳng về những điều kiện ban đầu ấy, nghĩa là mọi người đều được hoàn toàn bình
đẳng trong quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất; sản phẩm được làm ra nhiều
hay ít với chất lượng cao hay thấp đều tuỳ thuộc vào số lượng và chất lượng của
lao động; và trong nguyên tắc phân phối không có một sự phân biệt giai cấp nào
cả, vì bất cứ người nào cũng chỉ là một người lao động như người khác [Xem: 1,
tr.35]. Do đó, giờ đây phân phối theo lao động trong chủ nghĩa xã hội đã thực
sự là nguyên tắc phân phối công bằng.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
[[1]]
C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.19, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[2]
C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.21, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[3]
C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.23, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
[4]
Nguyễn Minh Hoàn (2010), Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.