Về bộ sưu tập thạp đồng Đông Sơn tại Bảo tàng Ninh Bình
Anh-tin-bai

1. Tổng quan

Vùng đất Ninh Bình sở hữu kho tư liệu về lịch sử địa chất, địa mạo của trái đất; là phần kéo dài và phân tán về phía đông của dãy núi đá vôi đồ sộ phía tây bắc của tổ quốc, hay trong không gian rộng hơn nó là những phần chân của dãy Himalaya vươn ra biển Thái Bình Dương vì vậy Ninh Bình có nhiều dãy núi chạy theo hướng tây bắc-đông nam như các dãy núi đá vôi trải dài trên các huyện Nho Quan, Hoa Lư, Gia Viễn, Yên Mô và thị xã Tam Điệp. Thời điểm hình thành những dãy đá vôi này dao động trong khoảng từ 250 triệu đến 300 triệu năm cách ngày nay (Nguyễn Cao Tấn 2013).

Qua nhiều thời kỳ biến đổi địa chất bị nâng lên, hạ xuống, bị uốn nếp, bào mòn dẫn đến những dãy đá vôi ở đây có dạng địa hình hết sức đa dạng với hàng loạt các hệ thống thung lũng, hố sụt, hang động cạn và hang động nước nối thông giữa các hố sụt, thung lũng ngập nước hay chạy dài theo những dãy núi đá vôi sắc mảnh.

Và đặc biệt hơn nữa hầu hết những dãy núi đá vôi ở Ninh Bình đều chịu sự xâm lấn và biến cải nhiều lần bởi biển trong giai đoạn Pleistocene sang giai đoạn Holocene. Ninh Bình còn sở hữu địa hình đồng bằng phù sa cổ, địa hình cồn cát xuất hiện trong quá trình hình thành đồng bằng sông Hồng; địa hình đồng bằng phù sa mới sen kẽ với những đầm nước gắn liền với không gian vùng ven biển thuộc huyện Yên Khánh và huyện Kim Sơn.

Trải qua thời gian từ khoảng 1 vạn năm đến 3 vạn năm những thế hệ người tiền sử mở rộng dần vùng sinh sống ra nhiều nơi. Người tiền sử đã rời những thung lũng khép kín hướng về vùng biển để khai thác hải sản, do đó những di tích mới phát hiện thuộc dãy đá vôi Tam Điệp, Nho Quan, Hoa Lư, Yên Mô có xuất lộ vỏ nhuyễn thể biển: ốc nhảy, ngao dầu, cua, sò huyết, hầu... Với một số dãy núi đá vôi ven biển ở Ninh Bình trong bối cảnh thời tiền sử cư dân cổ ở đây gần như sống và khai thác cả hai hệ sinh thái là nước ngọt (sông suối) và nước mặn (biển cả) đã làm nên một sắc thái văn hóa riêng của người dân cổ trên đất Ninh Bình. Nguồn thức ăn chính của người nguyên thủy là các loài nhuyễn thể như ốc suối và ốc núi. Bên cạnh đó cư dân cổ ở đây còn biết tận dụng những điều kiện tự nhiên, bổ sung cho nguồn dinh dưỡng lấy từ các loại củ, quả, hạt, săn bắt chim thú nhỏ. Giai đoạn sau họ đã biết làm đồ gốm, làm nông nghiệp để bước sang giai đoạn kim khí sự có mặt của người tiền sử rộng khắp trên đất Ninh Bình góp phần vào việc xây dựng nền Văn minh Đông Sơn rực rỡ.

Với địa hình tự nhiên nhiều đồi núi, hang động, lại có cả đồng bằng ven biển, ven sông, Ninh Bình là mảnh đất có bề dày lịch sử, là nơi xuất hiện dấu tích của con người từ rất sớm. Không những thế, vị trí địa lý giáp Thanh Hóa - nơi được coi là trung tâm của nền văn hóa Đông Sơn, Ninh Bình có nhiều điều kiện thuận lợi để cư dân Đông Sơn sinh sống và phát triển. Hiện nay, tại bảo tàng Ninh Bình có lưu giữ bộ sưu tập hiện vật văn hóa Đông Sơn khá phong phú về loại hình. Trong đó, bộ sưu tập thạp đồng có 13 chiếc. Về cơ bản bộ sưu tập thạp đồng Đông Sơn tại bảo tàng Ninh Bình hiện vẫn chưa được nghiên cứu, so sánh với các địa điểm đồng đại và lịch đại. Việc nghiên cứu kỹ hơn bộ sưu tập thạp đồng Đông Sơn tại Ninh Bình sẽ góp thêm nguồn tư liệu để nghiên cứu thạp đồng nói riêng cũng như nghiên cứu văn hóa Đông Sơn nói chung.

2. Thạp đồng Đông Sơn ở Ninh Bình

2.1. Về mặt loại hình

Bộ sưu tập thạp đồng Đông Sơn tại Bảo tàng Ninh Bình chủ yếu là thạp không có nắp. Thạp có hình trụ tròn, được trang trí cá c băng hoa văn chạy quanh thân. Phần miệng thạp có trang trí hai quai hình chữ U lộn ngược. Các nhóm hoa văn chính vẫn là các băng hoa văn dạng hình học, bên cạnh đó là hoa văn hình thuyền, tả cảnh đời sống của con người như giã gạo. Trong số 13 chiếc thạp, 12 chiếc là thạp không có nắp và 1 chiếc thạp minh khí.

Bảng 1. Bộ sưu tập thạp đồng Đông Sơn tại Bảo tàng Ninh Bình

TT

Tên hiện vật

Cao (cm)

Đường kính miệng (cm)

Đường kính đáy (cm)

Quai, hoa văn

1

Thạp Ninh Bình I

27

25

24

Quai hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học kết hợp hoa văn tả cảnh giã gạo

2

Thạp Ninh Bình II

22

22,5

19,9

Quai hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học

3

Thạp Ninh Bình III

20,8

18

15,5

Quai hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học

4

Thạp Ninh Bình IV

22,8

20,8

18,5

Quai hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học

5

Thạp Ninh Bình V

20,9

18,5

15,4

Quai hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học

6

Thạp Ninh Bình VI

20,5

18,4

16,1

Quai hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học

7

Thạp Ninh Bình VII

21,9

20

17

Quai hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học

8

Thạp Ninh Bình VIII

20,3

19,5

16,9

Quai hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học

9

Thạp Ninh Bình IX

20,9

20

16,4

Quai hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học

10

Thạp Ninh Bình X

23

20,7

19,4

Quai hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học

11

Thạp Ninh Bình XI

22

21,5

18,5

Quai hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học

12

Thạp Ninh Bình XII

21,5

21

17

Quai hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học

13

Thạp Ninh Bình XIII (thạp minh khí)

9

9

6

2.2. Chất liệu và kỹ thuật chế tác

Thạp đồng như tên gọi định hình và định chất của loại hình hiện vật này. Thạp được chế tác từ nguồn nguyên liệu chủ yếu là đồng. Với số lượng thạp tìm được thấy, để chế tác được số lượng nhiều như vậy thì phải có nguồn nguyên liệu đồng khá dồi dào, phong phú; chủ nhân chế tác chúng phải là cư dân biết khai thác, nấu luyện kim ở trình độ rất cao, làm chủ được kỹ thuật chế tác tạo ra những sản phẩm có chất lượng cả về kỹ thuật và mỹ thuật.

Tại Bảo tàng Ninh Bình, chúng tôi đã tiến hành phân tích thành phần hợp kim trên thân của một số mẫu thạp. Kết quả thu được như sau:

a. Mẫu thứ nhất:

Thạp không có nắp, phần thân có bị gỉ và vỡ một vài chỗ. Ký hiệu KL 1364

Bảng 2. Kết quả phân tích thành phần hợp kim mẫu 1

1

Al 2 O 3

(%)

0,01

2

CaO

0,22

3

Fe 2 O 3

0,43

4

K 2 O

< 0,01

5

MgO

0,04

6

MnO

< 0,01

7

P 2 O 5

< 0,01

8

TiO 2

0,01

9

Ag

(ppm)

1.935,5

10

As

15.411,7

11

B

< 10

12

Ba

< 10

13

Be

< 5

14

Bi

9.816,7

15

Cd

< 2

16

Ce

< 5

17

Co

< 2

18

Cr

< 5

19

Cu

636.863,9

20

Ga

< 10

21

Ge

< 20

22

La

< 5

23

Li

< 5

24

Mo

< 5

25

Nb

< 5

26

Ni

370,7

27

Pb

70.042,8

28

Sb

< 10

29

Sc

9,9

30

Sn

121.133,2

31

Sr

< 5

32

Ta

< 10

33

V

128,8

34

W

168,2

35

Y

8,1

36

Zn

2.227,1

Kết quả phân tích cho thấy ở mẫu thạp đồng này có chứa một lượng tương đối Fe 2 O (sắt bị ô xi hóa). Đây cũng có thể là nguyên nhân khiến cho hiện vật dễ bị gỉ và vỡ, nát.

Tỷ lệ Đồng (Cu) - Chì (Pb) - Thiếc (Sn) lần lượt là 63,68% - 7,0% - 12.11%. Kết quả phân tích cho thấy trong mẫu hợp kim để chế tác ra chiếc thạp này gồm 36 thành phần kim loại nhưng thành phần chính vẫn là hợp kim Đồng - Chì - Thiếc. Việc có lẫn một tỷ lệ sắt ô xít có thể là do nguồn nguyên liệu ban đầu. Trong hợp kim đồng - chì - thiếc của chiếc thạp này đồng chiếm tỷ lệ rất cao (63,68%) .

b. Mẫu thứ hai: Thạp đồng có ký hiệu KL 1386

Bảng 3. Kết quả phân tích thành phần hợp kim mẫu 2

1

Al 2 O 3

(%)

0,01

2

CaO

3,65

3

Fe 2 O 3

0,32

4

K 2 O

< 0,01

5

MgO

0,33

6

MnO

0,01

7

P 2 O 5

< 0,01

8

TiO 2

0,04

9

Ag

(ppm)

705,7

10

As

12.094,7

11

B

< 10

12

Ba

< 10

13

Be

< 5

14

Bi

3.987,9

15

Cd

< 2

16

Ce

< 5

17

Co

< 2

18

Cr

92,6

19

Cu

485.889,8

20

Ga

< 10

21

Ge

< 20

22

La

79,6

23

Li

< 5

24

Mo

< 5

25

Nb

< 5

26

Ni

316,3

27

Pb

273.490,4

28

Sb

992,9

29

Sc

8,0

30

Sn

107.487,5

31

Sr

< 5

32

Ta

< 10

33

V

4,5

34

W

1.246,8

35

Y

< 5

36

Zn

3.503,6

Kết quả phân tích cho thấy ở mẫu thạp đồng này có chứa một lượng rất ít Fe 2 O 3 (sắt bị ô xi hóa) so với mẫu 1.

Tỷ lệ Đồng (Cu) - Chì (Pb) - Thiếc (Sn) lần lượt là 48,58% - 27,34% - 10,74%. Kết quả phân tích cho thấy trong mẫu hợp kim để chế tác ra chiếc thạp này gồm 36 thành phần kim loại nhưng thành phần chính vẫn là hợp kim Đồng - Chì - Thiếc.

c. Mẫu thứ 3

Chiếc thạp đồng có ký hiệu KL 1387. Thạp khá nguyên vẹn.

Bảng 4. Kết quả phân tích thành phần hợp kim mẫu 3

1

Al 2 O 3

(%)

3,47

2

CaO

8,94

3

Fe 2 O 3

2,88

4

K 2 O

< 0,01

5

MgO

0,23

6

MnO

0,03

7

P 2 O 5

< 0,01

8

TiO 2

0,36

9

Ag

(ppm)

1.988,1

10

As

8.321,5

11

B

< 10

12

Ba

< 10

13

Be

29,1

14

Bi

1.493,2

15

Cd

< 2

16

Ce

< 5

17

Co

< 2

18

Cr

120,4

19

Cu

67.617,6

20

Ga

2.721,7

21

Ge

< 20

22

La

45,5

23

Li

< 5

24

Mo

< 5

25

Nb

< 5

26

Ni

336,8

27

Pb

41.686,8

28

Sb

1.062,6

29

Sc

< 5

30

Sn

26.219,1

31

Sr

26,2

32

Ta

< 10

33

V

145,6

34

W

686,7

35

Y

30,5

36

Zn

2.101,5

Kết quả phân tích cho thấy ở mẫu thạp đồng này có chứa một lượng Fe 2 O 3 (sắt bị ô xi hóa) nhiều hơn so với mẫu 1 và mẫu 2.

Tỷ lệ Đồng (Cu) - Chì (Pb) - Thiếc (Sn) lần lượt là 67,61% - 4,17% - 2,62%. Kết quả phân tích cho thấy trong mẫu hợp kim để chế tác ra chiếc thạp này gồm 36 thành phần kim loại nhưng thành phần chính vẫn là hợp kim Đồng - Chì - Thiếc. Trong hợp kim Đồng - Chì - Thiếc của chiếc thạp này đồng chiếm tỷ lệ khá cao (67,61%) .

d. Mẫu thứ 4

Chiếc thạp đồng có ký hiệu KL 1392

Bảng 5. Kết quả phân tích thành phần hợp kim mẫu 4

1

Al 2 O 3

(%)

8,71

2

CaO

1,79

3

Fe 2 O 3

2,57

4

K 2 O

< 0,01

5

MgO

0,21

6

MnO

0,02

7

P 2 O 5

< 0,01

8

TiO 2

0,46

9

Ag

(ppm)

286,1

10

As

< 20

11

B

< 10

12

Ba

159,5

13

Be

< 5

14

Bi

646,0

15

Cd

< 2

16

Ce

< 5

17

Co

< 2

18

Cr

103,8

19

Cu

80.221,7

20

Ga

916,4

21

Ge

< 20

22

La

21,2

23

Li

11,8

24

Mo

< 5

25

Nb

< 5

26

Ni

123,7

27

Pb

29.199,0

28

Sb

99,1

29

Sc

< 5

30

Sn

787,4

31

Sr

12,6

32

Ta

131,3

33

V

43,8

34

W

387,2

35

Y

16,6

36

Zn

545,4

Kết quả phân tích cho thấy ở mẫu thạp đồng này có chứa một lượng lớn gỉ đồng và thành phần giống với keo xi măng (???)

Tỷ lệ Đồng (Cu) - Chì (Pb) - Thiếc (Sn) lần lượt là 8,02% - 2,9% - 0,87%. Kết quả phân tích cho thấy trong mẫu hợp kim để chế tác ra chiếc thạp này gồm 36 thành phần kim loại nhưng thành phần chính vẫn là hợp kim Đồng - Chì - Thiếc. Trong hợp kim Đồng - Chì - Thiếc của chiếc thạp này đồng chiếm tỷ lệ rất thấp. Có thể chiếc thạp này được đúc (phục chế) lại.

Dù thạp đồng đ ược sử dụng vào các mục đ ích khác nhau, nhưng về cơ bản, đ ây là sản phẩm dân dụng, có tính thực tế trong đ ời sống thường nhật. Chính vì thế, việc pha luyện kim loại không đ òi hỏi trình đ ộ cao như pha luyện kim loại đ úc trống đ ồng. Thành phần chính của chúng là đ ồng, thiếc, chì, sắt và một số kim loại khác. Kỹ thuật đ úc thạp đ ồng có phần đ ơn giản hơn kỹ thuật đ úc trống đ ồng, bởi hình dáng thạp đ ơn giản chỉ là một khối gần hình trụ tròn đ ều, không có nhiều đ ường gấp như trống đ ồng, nhưng thông thường trống đ ồng chỉ dùng đ ến ba mang khuôn: Hai mang tạo thân và một mang tạo mặt; nhưng thạp đ ồng có khi phải dùng tới bốn mang khuôn. Đ ối với loại thạp không có nắp thì dùng ba mang khuôn đ ể tạo thân và đ áy; đ ối với loại có nắp rõ ràng người thợ phải sử dụng ba mang khuôn tạo thân và đ áy, riêng phần nắp là một khuôn riêng.

Kỹ thuật đúc thạp đồng nói chung, đặc biệt là loại thạp đồng có nắp, trang trí hoa văn như ta đã thấy không kém sự phức tạp, khó khăn như đúc trống đồng. Đối với thạp đồng không đòi hỏi pha chế kim loại thích hợp bảo đảm độ vang của âm thanh như trống đồng, chuông đồng, song những họa tiết phức tạp, tinh xảo, sắc nét với những chủ đề đa dạng đòi hỏi tư duy thẩm mỹ cao không kém như khi đúc trống đồng. Hoa văn trang trí trên thân thạp bao gồm: hoa văn hình muông thú (chim, hươu, nai); hoa văn tả cảnh người nhảy múa hay cảnh sinh hoạt của con người (giã gạo); hoa văn hình thuyền. Hầu hết những hình ảnh đó đều được sắp xếp ngược chiều kim đồng hồ, không khác những hình khắc trên trống đồng Đông Sơn, gần như trở thành quy luật. Xưa nay có nhiều ý kiến khác nhau về hiện tượng ngược chiều này. Qua những hình khắc trên thân trống và thạp cũng như qua thực nghiệm và quan sát cách làm khuôn ở những cơ sở đúc đồng hiện nay, ta thấy sở dĩ có hiện tượng đó là do người nghệ nhân thời bấy giờ thường thuận tay phải, cũng giống như hiện nay các nghệ nhân thường dùng tay phải khắc họa những hình ảnh từ trái sang phải lên mặt trong khuôn đúc. Những hình ảnh đó khi in vào mặt ngoài thân hiện vật sẽ trở thành những hình ảnh xếp sắp ngược chiều với hình ảnh khắc trên khuôn, tức sẽ từ phải qua trái, ngược chiều kim đồng hồ như ta thấy (Trịnh Sinh 2017: 189).

2.3. Hoa văn trang trí

Người nghệ nhân Đông Sơn đã vận dụng trí tưởng tượng, khiếu thẩm mỹ và sự khéo léo của đôi bàn tay trong trang trí đồ đồng. Những đồ đồng Đông Sơn được tạo tác rất tỷ mỷ, đẹp mắt cả về hình dáng và hoa văn trang trí. Trong số hiện vật đồng, trống đồng là loại hiện vật đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình và trang trí của văn hóa Đông Sơn. Bên cạnh đó, người nghệ nhân Đông Sơn cổ cũng dành nhiều thời gian và tâm huyết cho việc tạo hình và trang trí các loại hiện vật khác, trong đó có thạp đồng. Mặc dù, đây là một loại hiện vật mang tính thực dụng cao, chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt nhưng người nghệ nhân Đông Sơn cũng đã dùng bàn tay và khối óc của mình để trang trí, tạo nên các đồ án hoa văn đẹp mắt. Hoa văn trên các thạp đồng Đông Sơn ở Ninh Bình gồm các nhóm hoa văn chính: hoa văn hình kỷ hà, hoa văn đề tài động vật, hoa văn tả cảnh đời sống sinh hoạt của con người (cảnh giã gạo đôi). Những chiếc thạp được lưu giữ tại Bảo tàng Ninh Bình với đủ các loại hình và kiểu trang trí hoa văn khác nhau đã cho chúng ta thấy vai trò của thạp đồng trong đời sống của cư dân cổ cũng như bàn tay tài hoa của các nghệ nhân Đông Sơn cổ tại nơi đây. Về hoa văn trang trí trên thạp đồng Ninh Bình, chúng tôi tổng hợp thành những nhóm hoa văn như sau:

* Hoa văn hình kỷ hà hay hình học đã xuất hiện trên đồ gốm thời Tiền sử. Ban đầu, hoa văn dạng hình học được sử dụng nhằm mục đích gia tăng độ cứng và độ bền của đồ gốm. Khi kỹ nghệ luyện kim và đúc đồng phát triển, cư dân cổ đã sử dụng các loại hoa văn hình học trên đồ đồng. Chúng không chỉ mang tính kỹ thuật mà còn mang tính mỹ thuật cao. Đặc biệt là sang giai đoạn văn hóa Đông Sơn, khi kỹ nghệ luyện kim và đúc đồng đã đạt đến đỉnh cao, họ sử dụng nhiều đồ án hoa văn hình học khác nhau để trang trí cho đồ đồng đẹp mắt hơn. Hoa văn hình kỷ hà trên thạp đồng Đông Sơn bao gồm các nhóm:

+ Hoa văn đường chỉ dài: Đây là loại hoa văn đơn giản nhất, nó là một đường chỉ dài được khắc chìm hay đục nổi, trở thành một đường viền bao quanh phần thân của thạp đồng. Nó bao quanh các băng hoa văn vòng quanh thân thạp. Có khi là một hoặc nhiều đường chỉ chạy song song. Loại hoa văn này được trang trí phổ biến trên cả loại thạp có nắp và không có nắp.

+ Hoa văn đường thẳng ngắn song song: Thường tập hợp thành một băng dài gồm những đoạn thẳng ngắn song song bố cục chạy vuông góc với các hoa văn đường chỉ dài là biên giới của các băng hoa văn. Hoa văn dạng này tập trung ở phần miệng và thân phần gần đáy thạp. Kiểu hoa văn này xuất hiện trên tất cả các thạp đồng trong sưu tập tại Bảo tàng Ninh Bình.

+ Hoa văn đường dích dắc (hay gấp khúc): Loại hoa văn này cũng không đứng riêng rẽ một mình mà nó thường kết hợp với các hoa văn khác như đường kẻ ngắn để tạo thành các đồ án hoa văn ở phần thân gần đáy thạp. Dạng hoa văn này gồm nhiều đoạn thẳng gấp khúc đan vào nhau tạo thành những hình thoi.

+ Hoa văn vòng tròn tiếp tuyến: Đây cũng là một loại hoa văn đơn giản, với nhiều kiểu dạng khác nhau. Hoa văn gồm những vòng tròn tiếp tuyến có chấm tròn ở giữa. Loại hoa văn này thấy rõ nhất trên phần thân thạp.

Hoa văn đề tài cảnh sinh hoạt của con người

Trong các loại hình đề tài trang trí hiện thực, người nghệ nhân Đông Sơn còn dùng nhiều dạng hoa văn miêu tả cảnh sinh hoạt của con người đương thời để trang trí trên đồ đồng, trong đó có thạp đồng. Đó là những ngôi nhà cộng đồng, những cảnh đua thuyền, những trò chơi dân gian, những điệu múa tập thể, cảnh giã gạo. Tất cả những hoạt động trong đời sống sinh hoạt của cư dân Đông Sơn đã được người nghệ nhân khéo léo khắc họa và bố cục tạo nên một bức tranh sống động, giúp cho chúng ta phần nào hiểu được đời sống của cư dân cổ Đông Sơn.

2.4. Niên đại

Bộ sưu tập thạp đồng Đông Sơn tại Bảo tàng Ninh Bình là một trong số những loại hình di vật tiêu biểu của thời kỳ văn hóa Đông Sơn có niên đại từ 2000 - 2500 BP.

3. Thạp đồng Đông Sơn ở Ninh Bình và các mối quan hệ văn hóa

* Thạp đồng Đông Sơn tại Ninh Bình với thạp đồng Đông Sơn tại Thanh Hóa

Thanh Hóa là nơi phát hiện ra di tích văn hoá Đông Sơn đầu tiên . Cho đến nay số lượng di tích và di vật thuộc văn hóa Đông Sơn được phát hiện tại Thanh Hóa luôn chiếm số lượng lớn nhất. Tại Thanh Hoá, nơi phát hiện được nhiều nhất gần 100 di tích Đông Sơn và được phân bố trên khắp cả bốn miền của tỉnh từ đồng bằng, trung du, miền núi đến miền biển. Văn hóa Đông Sơn là một sự hòa nhập, hội tụ của các văn hóa tiền Đông Sơn mang đậm tính địa phương. Đông Sơn đã như “một biển lớn đón nhận những dòng sông văn hóa tiền Đông Sơn khác nhau và Thanh Hóa đã có một dòng sông văn hóa riêng đổ vào biển Đông Sơn”... Văn hoá Đông Sơn đã đạt tính thống nhất văn hoá trên địa bàn rộng lớn, chứng tỏ sự hoà hợp các bộ lạc để hình thành một Nhà nước sơ khai. Đó là Nhà nước Văn Lang thuở các vua Hùng dựng nước mà Thanh Hoá bấy giờ thuộc bộ Cửu Chân. Vào thời kỳ này đã có những làng xóm định cư lâu dài như Đông Sơn, Thiệu Dương...

Trong bộ sưu tập di vật đồng đồ sộ của văn hóa Đông Sơn thì thạp đồng là một trong những loại hình di vật đặc biệt. Vùng đồng bằng và trung du Thanh Hóa, thạp đồng tìm thấy chủ yếu trong các di tích văn hóa Đông Sơn, đặc biệt ở ngã ba sông Mã - sông Chu như: Đông Sơn, Thiệu Dương, Đông Tiến. Ngoài ra ở ven biển như Đa Bút (Vĩnh Lộc) hay vùng cao như Xuân Lập (Thọ Xuân), Làng Chác (Vĩnh Lộc)…, cũng thấy những thạp đồng khá đẹp bên cạnh trống và những đồ đồng Đông Sơn. Cho đến nay có thể nói, vùng sông Mã là khu vực tìm thấy nhiều thạp đồng nhất.

Theo thống kê chưa đầy đủ, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã phát hiện được gần 200 chiếc thạp đồng Đông Sơn (riêng Bảo tàng Thanh Hóa lưu giữ hơn 60 chiếc). Diện phân bố nhiều nhất và tập trung nhất ở các huyện vùng đồng bằng và trung du, thuộc lưu vực của hai con sông lớn là sông Mã và sông Chu như: Đông Sơn, Thiệu Hóa, Yên Định, Vĩnh Lộc, Thọ Xuân, Triệu Sơn, Nông Cống… (riêng huyện Thọ Xuân có tới 30 chiếc), ở một số huyện miền núi như Thạch Thành, Bá Thước… cũng đã phát hiện được thạp đồng Đông Sơn (Thân Thị Hằng 2023: 20).

So với bộ sưu tập thạp đồng tại Thanh Hóa, bộ sưu tập thạp đồng tại Ninh Bình khiêm tốn hơn về số lượng và kích thước. Thạp đồng ở Ninh Bình có kích thước nhỏ hơn, chủ yếu là thạp không có nắp. Theo như nguồn gốc, xuất xứ của sưu tập thạp đồng này thì có nhiều khả năng nhóm thạp đồng tại Ninh Bình có nguồn gốc từ Thanh Hóa.

Thạp đồng Đông Sơn tại Ninh Bình với thạp Đông Sơn khu vực đồng bằng Bắc Bộ

Thạp đồng văn hóa Đông Sơn được phát hiện tại các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ tập trung vào khu vực hạ lưu sông Hồng gồm các tỉnh như: Hà Nội (thạp Trung Mầu, Đa Tốn, Cổ Loa 1, 2, 3; thạp Hà Nội, Châu Can 1, 2; Phú Xuyên 1, 2; Cộng Hòa, Thọ Vực, Chợ Trầm, Phú Lương, Xuân La 1, 2, 3), tỉnh Hưng Yên (thạp Động Xá, Trần Văn Mai 1, 2, 3), tỉnh Hải Dương (thạp Thượng Vũ, Kiệt Thượng, Hoàng Lại), Hải Phòng (thạp Việt Khê 1, 2, 3; Thủy Đường), tỉnh Hà Nam (thạp Ngọc Lũ 1, 2; Duy Tiên, Yên Bắc, Yên Từ 1, 2; Châu Sơn 1, 2 ), Nam Định (thạp đồng của gia đình Lê Quang Chức), Ninh Bình 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10. Nhìn chung, thạp đồng phát hiện ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ chủ yếu được phát hiện tình cờ, có một số được phát hiện trong các đợt khai quật như thạp đồng Việt Khê 1, 2, 3; thạp đồng Châu Can. Về loại hình thạp được phát hiện chủ yếu là loại thạp đồng không nắp với hoa văn trang trí đơn giản gồm các đường tròn kép có chấm ở giữa và vạch thẳng song song, thạp đồng thuộc loại hình có nắp chiếm số lượng ít, hoa văn tinh xảo như thạp Trần Văn Mai 1 (Hưng Yên), thạp đồng Hà Nội.

Bộ sưu tập thạp đồng Đông Sơn tại Ninh Bình phát hiện với số lượng ít hơn. Tất cả đều là loại thạp không có nắp, trang trí hoa văn và loại hình đơn giản hơn.

* Thạp đồng Đông Sơn tại Ninh Bình với thạp đồng Yên Bái

Yên Bái nằm trên một địa bàn rộng lớn, có thể nhận thấy các di chỉ khảo cổ học liên quan tới việc phát hiện những thạp đồng ở Yên Bái. Thạp đồng Đông Sơn ở Yên Bái chủ yếu được phát hiện dọc hai con sông Hồng và sông Chảy. Thạp đồng được phát hiện nhiều nhất ở lưu vực sông Hồng.

Số lượng thạp đồng Đông Sơn phát hiện được tuy nhiều nhưng kiểu dáng cũng như hoa văn trang trí tương đối đơn giản, ít thay đổi nên việc phân loại có phần đơn giản, không phức tạp như phân loại trống đồng. Căn cứ vào toàn bộ cấu trúc của thạp theo đó thạp được phân làm hai loại: Thạp có nắp và không có nắp. Hiện nay trong kho cơ sở Bảo tàng tỉnh Yên Bái hiện có tổng số 29 chiếc thạp, căn cứ vào cấu trúc thạp và gờ miệng thạp, có 4 chiếc (và một chiếc hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) thạp đồng thuộc loại có nắp; 25 chiếc còn lại thuộc loại không nắp. Hầu hết những thạp có nắp tại kho cơ sở Bảo tàng tỉnh Yên Bái đều được trang trí hoa văn mang tính nghệ thuật cao, không chỉ trên thân mà còn cả trên nắp thạp. Một số thạp, trên nắp còn được gắn tượng người, động vật hay chim muông như thạp Hợp Minh, nghệ thuật trang trí trên loại thạp này cũng cầu kỳ, tỷ mỷ và tả cảnh sinh hoạt hết sức sinh động. Các thạp đồng không nắp tại kho cơ sở bảo tàng tỉnh hầu hết có hình trụ tròn, hoa văn trang trí trên thân thạp đơn giản như: băng răng lược, đường tròn đơn có chấm giữa, một số thạp có hoa văn ô trám lồng, trang trí trên thân thạp tương đối giống nhau, đều là hoa văn hình học đơn giản, quai hình chữ “U” ngược hoặc hình mui thuyền.

Với số lượng 29 chiếc, với đầy đủ loại hình, hoa văn đặc trưng của nền văn hóa Đông Sơn. Thạp đồng đã chứng minh nó là sản phẩm không thể thiếu trong đời sống tinh thần và thực tại của người Đông Sơn ở Yên Bái. Người Đông Sơn đã rất chú trọng đến hoa văn trang trí trong khi chế tác, thạp đồng như một sản phẩm nghệ thuật. Điển hình nhất là hai chiếc thạp đã được Nhà nước công nhận bảo vật Quốc gia là thạp đồng Đào Thịnh 1 và thạp đồng Hợp Minh. Cho đến ngày nay, thạp đồng vẫn còn sự ảnh hưởng, có giá trị to lớn đối với đời sống những tầng lớp con cháu cư dân Đông Sơn ở Yên Bái (Nguyễn Hòa 2016: 51).

Bộ sưu tập thạp đồng tại Ninh Bình ít hơn về số lượng. Hầu hết là thạp có kích thước vừa phải. Hoa văn trang trí trên thân thạp đơn giản hơn. Không có nhiều đồ án hoa văn trang trí cầu kỳ như thạp đồng Yên Bái .

Thạp đồng Đông Sơn tại Ninh Bình với thạp đồng khu vực sông Cả

Đối với khu vực sông Cả, thạp đồng tập trung phát hiện được ở Nghệ An. Đó là địa điểm Làng Vạc, bên dòng sông Hiếu (một chi của sông Cả) thuộc về xã Nghĩa Hòa, huyện Nghĩa Đàn và khu di tích Đồng Mồ thuộc xã Hưng Thắng, huyện Hưng Nguyên bên dòng sông Cả. Qua nhiều lần điều tra, thám sát và khai quật cũng như phát hiện ngẫu nhiên từ 1972 đến 2005, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở Làng Vạc 17 chiếc thạp trong các mộ táng thuộc văn hoá Đông Sơn. Cho đến trước năm 2002, anh Lê Tài Bá đã tìm thấy 3 chiếc thạp cùng với nhiều di vật văn hoá Đông Sơn tại khu di tích Đồng Mồ. Vượt qua tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình, nơi đây chưa tìm thấy thạp đồng, song ở Phong Mỹ, huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế, năm 1998, nhân dân đã phát hiện một thạp đồng còn khá nguyên vẹn bên cạnh trống đồng Đông Sơn loại I Hêgơ. Đây có lẽ là chiếc thạp đồng duy nhất phát hiện được ở khu vực phía Nam của văn hoá Đông Sơn tính đến thời điểm năm 2005. (Hà Văn Phùng 2008: 100).

Thạp đồng Đông Sơn ở Ninh Bình trong mối quan hệ với thạp đồng Đông Sơn ở Nam Trung Quốc

Thạp đồng Đông Sơn ở Ninh Bình có mối quan hệ chặt chẽ với văn hóa Đông Sơn, là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam. Ngoài ra thạp đồng Đông Sơn ở Ninh Bình nói riêng - Văn hóa Đông Sơn nói chung có mối quan hệ khá gần gũi với văn hóa Điền ở các tỉnh phía Nam Trung Quốc thông qua sự trao đổi thông thương về hàng hóa trong thời đại đồ sắt sớm.

Thạp đồng phát hiện ở Nam Trung Quốc không nhiều. Theo tư liệu đã công bố, cho đến nay miền Nam Trung Quốc đã phát hiện được khoảng 19 thạp đồng trong mộ Nam Việt Vương, mộ Bắc Lĩnh Tùng ở Quảng Đông, mộ La Bạc Loan, mộ Cao Trại, địa điểm Ung Giang ở Quảng Tây và mộ Thiên Tử Miếu ở Vân Nam. Đáng chú ý là, cho đến nay chưa phát hiện được thạp đồng minh khí trên đất Nam Trung Quốc.

Cho đến nay, số lượng thạp đồng ở Nam Trung Quốc phát hiện được không nhiều, chỉ khoảng 19 chiếc, phân bố khá rải rác trên một phạm vi lớn gồm 3 tỉnh: Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây. Trong khi đó thạp đồng Đông Sơn phát hiện được với số lượng rất lớn (khoảng 280 chiếc), trong đó có nhiều thạp to và đẹp, ngoài ra chưa kể đến nhiều thạp minh khí được tìm thấy trong khu vực phân bố của văn hóa Đông Sơn. Điều này minh chứng hiển nhiên rằng, Bắc Việt Nam là quê hương xuất xứ của loại thạp đồng Đông Sơn. Điều này cũng phản bác quan điểm của các học giả Tưởng Đình Du và Lam Nhật Dũng cho rằng, thạp đồng xuất hiện đầu tiên ở Vân Nam - Trung Quốc, sau đó lan tỏa sang phía Đông đến vùng Lưỡng Quảng và xuống phía Nam tới miền Bắc Việt Nam. Có thể nói, cư dân Nam Trung Quốc không có truyền thống chế tác và sử dụng thạp đồng kiểu Đông Sơn. Đây là điểm khác biệt lớn và cũng là bằng chứng rất quan trọng cho thấy văn hóa Đông Sơn có nguồn gốc phát triển tại chỗ, và có bản sắc văn hóa riêng không pha trộn được. Cùng với trống đồng Đông Sơn, thạp đồng được coi là một loại di vật tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn của người Việt cổ (Trình Năng Chung 2015 : 35 - 46 ).

Những chiếc thạp tìm thấy trong mộ Nam Việt Vương, mộ La Bạc Loan, mộ Bắc Tùng Lĩnh, mộ Cao Trại và Thiên Từ Miếu có rất nhiều điểm tương đồng với thạp Đông Sơn. Về kiểu dáng những chiếc thạp này phần lớn là loại có miệng dày hơi bóp vào, thân nở, có quai hình chữ “U” ngược hay quai hình mui thuyền rất giống với thạp Đông Sơn. Hoa văn trang trí trên những chiếc thạp này chủ yếu là văn răng cưa, văn răng lược, văn vòng tròn tiếp tuyến, văn vòng tròn đồng tâm, hồi văn gấp khúc hình quả trám, văn người hóa trang nhảy múa, văn thuyền người hóa trang, văn hình kích (kích: một loại vũ khí). Đó cũng là những hoa văn chủ yếu trang trí trên thạp đồng Đông Sơncác thạp tìm thấy trong mộ Nam Việt Vương, mộ La Bạc Loan, mộ Bắc Tùng Lĩnh, mộ Cao Trại và Thiên Từ Miếu có rất nhiều điểm tương đồng với thạp Đông Sơn. (Trình Năng Chung 2015 : 35 - 46 ).

4. Kết luận

Trong số 13 chiếc thạp đồng tại Bảo tàng Ninh Bình có 10 chiếc là do bên công an thu giữ của những người buôn bán cổ vật trái phép, 2 chiếc do người dân hiến tặng cho Bảo tàng. Chỉ có một chiếc thạp minh khí được phát hiện tại vùng Gia Viễn. Với địa hình tiếp giáp với Thanh Hóa - cái nôi của văn hóa Đông Sơn. Cùng với những mô típ trang trí trên thân thạp cho thấy: thạp đồng Ninh Bình có mối quan hệ mật thiết với thạp đồng tại Thanh Hóa. Có nhiều khả năng nhóm thạp đồng do công an thu giữ và bàn giao cho bảo tàng đều có nguồn gốc từ Thanh Hóa.

Về hình dáng: Thạp đều có dáng hình trụ tròn, không có nắp. Hoa văn trang trí trên thân thạp chủ yếu là hoa văn dạng hình học như: đường chỉ, khắc vạch, đường tròn tiếp tuyến. Chỉ duy nhất có một chiếc thạp có trang trí hoa văn về đề tài cảnh sinh hoạt của con người (cảnh giã gạo). Thành phần hợp kim chính của thạp là đ ồng, thiếc, chì, sắt và một số kim loại khác. Thạp được đúc bằng khuôn ba mang.

Bộ sưu tập thạp đồng tại Ninh Bình tuy rất khiêm tốn về số lượng so với Thanh Hóa, Yên Bái và các khu vực khác. Nhưng chúng cũng góp phần bổ sung rất lớn vào nguồn tư liệu về đồ đồng nói chung và thạp đồng nói riêng của văn hóa Đông Sơn. Đồng thời góp phần khẳng định về sự tồn tại và phát triển của văn hóa Đông Sơn tại vùng đất Ninh Bình.

TÀI LIỆU DẪN

HÀ VĂN PHÙNG 2008. Thạp đồng Đông Sơn . Nxb. KHXH: 75,76,100.

NGUYỄN HÒA 2016. Thạp Đông Sơn ở Yên Bái . Luận văn cao học chuyên ngành Khảo cổ học: 51.

NGUYỄN CAO TẤN 2013. Phác họa bức tranh thời tiền sử trên đất Ninh Bình. https://baoninhbinh.org.vn/phac-hoa-buc-tranh-thoi-tien-su-tren-dat-ninh-binh/d20130527045816771.htm

TRÌNH NĂNG CHUNG 2015. Thạp đồng Đông Sơn trong mối quan hệ với thạp đồng Nam Trung Quốc . Trong Khảo cổ học , số 2: 35 - 46.

TRỊNH SINH 2017 Kỹ thuật đúc 2 chiếc thạp đồng Thanh Hóa. Trong NPHMVKCH năm 2016 . Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội: 189.

THE COLLECTION OF ĐÔNG SƠN BRONZE JAR IN THE NINH BÌNH MUSEUM

THÂN THỊ HẰNG

The collection of Đông Sơn bronze jars in the Ninh Bình Museum includes 13 pieces. Of these, 10 were handed over to the museum by the police, 3 were donated including 1 burial bronze jar. The Đông Sơn bronze jars in Ninh Bình Museum are all lidless jars with upside-down U-shaped handles. The decorative motifs on the jars' bodies are mainly irregular patterns: long lines, tangent circles, double diamonds, short lines and one depicting human labor scenes. The alloy components are mainly: copper, lead, tin. Bronze jars in Ninh Bình Museum also have a very close cultural relationship with the ones in Thanh Hóa, Yên Bái and other neighboring regions. Although the collection of Đông Sơn bronze jars in Ninh Bình Museum is quite modest in quantity compared to Thanh Hóa and Yên Bái, it is quite rich in types. Further research on Đông Sơn bronze jars in Ninh Bình Museum will contribute to clarify the Đông Sơn cultural period in Ninh Bình as well as provide more datas on research of bronze jar in Vietnam.

Thân Hằng
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1